Quá trình hoạt động của tổ chức VOICE (Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment)

Theo tuyên bố chính thức của VOICE, ban đầu, họ được thành lập như một tổ chức thiện nguyện chuyên giúp những người vượt biên Việt Nam được cấp quốc tịch ở châu Úc và Bắc. Sau đó, tổ chức này có thêm một hoạt động khác, là cấp vốn và đào tạo nhân sự cho những hội đoàn chính trị đối lập ở Việt Nam.

Ghi lại lịch sử của VOICE là điều không dễ dàng. Khi lần lại thông tin về VOICE, chúng tôi nhận ra nhiều đoạn lịch sử của tổ chức này đã bị họ xóa đi một cách có chủ ý. Chẳng hạn, theo một bản tường trình về đêm văn nghệ gây quỹ của VOICE, tổ chức tại Nam California vào ngày 4 tháng 10 năm 2007, có thể thấy website chính thức của VOICE hiện tại, tức vietnamvoice.org, đã hoạt động từ khoảng thời gian này (1). Tuy nhiên, hiện nay, website này không còn lưu giữ bất cứ nội dung nào về những sự kiện trước năm 2008. Website cũng không còn lưu giữ bất cứ nội dung nào về những sự kiện diễn ra trong khoảng thời gian 2008 – 2014, ngoại trừ một thông báo tuyển dụng của họ, một thông cáo báo chí trên The Edmonton Journal (2), một bài trên Ottawa Citizen (3), và một thông cáo báo chí của Liên hội Người Việt tại Canada (4). Ba bài báo và thông cáo báo chí vừa kể đều  viết bằng tiếng Anh, để tuyên bố một thành tích hoạt động thiện nguyện của VOICE, và đều xoay quanh những sự kiện trong năm 2008. Như vậy, website này không còn lưu trữ bất cứ thông tin nào về những diễn biến trong năm 2007, và trong giai đoạn 2009 – 2013. Thêm vào đó, cần lưu ý rằng cả bốn văn bản trên đều được đăng trên website vào ngày 16 tháng 3 năm 2014 (ảnh dưới), chứ không phải vào năm 2008, khi sự kiện vừa xảy ra. Như vậy, ta có thể khẳng định rằng năm 2014, VOICE đã tự xóa lịch sử của mình một cách có chủ ý.

00

Có thể đó không phải là lần duy nhất họ tự xóa lịch sử. Năm 2016, ông Nguyễn Thanh Tú, con trai cố ký giả Nguyễn Đạm Phong, đã viết một loạt bài điều tra về mối quan hệ giữa VOICE và đảng Việt Tân, cùng sự thiếu minh bạch tài chính của nó. Đáp lại ông Nam Lộc, thành viên VOICE, đã viết ít nhất một bài biện hộ (5). Ông Tú đã phản bác bài biện hộ này, và dựa vào nội dung của nó để chất vấn thêm. Hiện nay, chúng tôi không tìm được bài gốc của ông Nam Lộc ở bất cứ đâu trên Internet, trừ những nơi đăng bài phản bác của ông Tú, rồi đăng nó như mội tài liệu minh họa kèm theo.

Vì lí do trên, khi lần lại lịch sử của VOICE, chúng tôi buộc phải nhặt nhạnh từng mảnh vụn thông tin từ vô số bài báo, bài bút chiến và lời đối thoại trên các diễn đàn. Ngay cả khi ghép những mảnh vụn đó lại với nhau, có lẽ chúng ta cũng chưa có được một bức tranh hoàn chỉnh về quá khứ của tổ chức này, dù nó mới chỉ có mười năm hoạt động.

 

Chú thích:

(1) http://forum.trungtamasia.com/yaf_postst5084_Tuong-trinh-ve-ket-qua-Dem-Van-Nghe-gay-quy-VOICE.aspx

(2) http://vietnamvoice.org/2014/03/vietnamese-families-finally-find-homes/

(3) http://vietnamvoice.org/2014/03/vietnamese-families-given-chance-to-rebuild-their-lives-in-ottawa/

(4) http://vietnamvoice.org/2014/03/project-freedom-at-last/

(5) https://damphong.com/2016/05/13/t-h-o-n-g-b-a-o-1-4-giau-dau-v-o-i-c-e-ho%CC%89-duoi-v-i-e%CC%A3-t-t-a-n/

 


 

I. Sự ra đời của VOICE

 

1. Ý nghĩa của tên gọi

Theo lời giới thiệu chính thức trên website của VOICE (1), “VOICE” là chữ viết tắt của “Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment”. Ý nghĩa thật sự của tên gọi này có thể là một vấn đề gây tranh cãi. Một mặt, người đặt tên đã không tuân thủ ngữ pháp tiếng Anh, khi dùng chữ “Vietnamese Overseas”, thay vì cụm từ đúng ngữ pháp là “Overseas Vietnamese”. Mặt khác, khi search cụm từ “Conscience Empowerment” trên công cụ tìm kiếm Google, chúng tôi không nhận được bất cứ kết quả search nào khác, ngoài những kết quả liên quan đến VOICE.

Trong một bài viết trên BBC (2), ông Trịnh Hội (tên đầy đủ là Trịnh Trường Hội), người sáng lập VOICE, cho biết ban đầu VOICE không có tên gọi chính thức bằng tiếng Việt. Sau khi VOICE ra đời, ông Hội đã nhờ một người bạn của mình, là ông Nguyễn Ngọc Bích, dịch cụm từ “Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment” sang tiếng Việt giúp ông. Về lý do chọn ông Nguyễn Ngọc Bích làm người dịch, ông Hội viết trong bài:

“Điều làm cho tôi ấn tượng nhất khi vừa gặp bác là khả năng viết, nói và dịch tiếng Anh của bác. Khó tìm được một người khác ở cùng thế hệ của bác lại có khả năng Anh ngữ chuẩn như bác.

Mà hình như cả gia đình của bác đều giỏi như nhau. Vợ của bác là tiến sĩ Đào Thị Hợi cũng thế. Anh trai của bác nguyên là Tổng Giám Đốc Thông Tấn Xã Việt Nam, ông Nguyễn Ngọc Linh vẫn thường xử dụng tiếng Anh khi trao đổi với tôi. Ông từng làm tuỳ viên báo chí và thông dịch cho cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Một người anh trai khác, ông Nguyễn Ngọc Phách cũng là một học giả, chuyên dịch văn, thơ Việt Nam.

Đấy cũng là lý do tại sao tôi đã nhờ bác dịch hộ cho tôi cái tên ‘VOICE’, viết tắt của 5 chữ ‘Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment’ khi nó được cho ra đời cách đây đúng 10 năm.

Lúc ấy bác đã không hề ngần ngại và cho dịch ra ngay là: Sáng Kiến Thể Hiện Lương Tâm Người Việt Hải Ngoại.”

Tuy nhiên, vì từ “empowerment” chỉ sự “ủy quyền”, “trao quyền”, và không có ý nghĩa liên quan đến sự “thể hiện”, cách dịch này có lẽ cũng cần bàn thêm.

 

2. Thời gian thành lập

Theo lời giới thiệu chính thức trên website của VOICE (1), thì tổ chức này hình thành và hoạt động từ năm 1997. Mười năm sau, năm 2007, tổ chức này chính thức đăng ký tại California. Ngoài việc cho biết mục đích hoạt động của VOICE, lời giới thiệu trên website cũng liệt kê những thành tích của tổ chức này trong mười năm hoạt động không chính thức:

01

Tuy nhiên, lời giới thiệu này có phần không khớp với hai phát biểu khác của chính ông Trịnh Hội. Thứ nhất là bài viết về ông Nguyễn Ngọc Bích nêu trên (2), trong đó ông Hội khẳng định rằng đến năm 2007 VOICE mới được thành lập và đặt tên chính thức. Thứ hai là bài viết “Việt Tân, VOICE và tôi” (3), trong đó một lần nữa, ông Hội tái khẳng định rằng ông “quyết định thành lập VOICE” vào năm 2007. Cũng trong bài này, ông Hội khẳng định rằng trong giai đoạn 1997 – 2007, ông Hội không tham gia tổ chức, mà chỉ “cộng tác” dưới tư cách cá nhân với bốn tổ chức, là Boat People SOS, LAVAS và Cộng Ðồng Người Việt Tự Do Úc Châu để làm thiện nguyện. Như vậy, những thành tích hoạt động thiện nguyện từ năm 1997 đến năm 2007, mà đoạn giới thiệu trên website của VOICE đã liệt kê, có lẽ thuộc về bốn tổ chức này hơn là VOICE.

 

3. Các thành viên sáng lập

Theo lời kể của ông Trịnh Hội trong bài “Việt Tân, VOICE và tôi”, trong Hội đồng Quản trị đầu tiên của VOICE, ngoài ông còn có năm thành viên khác. Đó là các ông Đoàn Việt Trung, Hoàng Tứ Duy, Nguyễn Văn Châu và Chu Quang Ngọc và Max Võ. Ông Hội đảm nhận chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Ngoài ra, họ còn mời bà Lisa Nguyễn Thùy Dương, một cộng sự trong các hoạt động thiện nguyện trước đó, làm Giám đốc Điều hành đầu tiên của VOICE. Sự ra đời của VOICE được đánh dấu bằng một buổi tiệc được tổ chức lúc 7 giờ tối ngày 5 Tháng 5 năm 2007 ở quận Arlington, Virginia, nhằm gây quĩ để xây văn phòng của nhóm này ở Campuchia.

03

Bà Lisa Nguyễn Thùy Dương. Ảnh và trích dẫn lấy từ trang BBC tiếng Việt.

Trong suốt quá trình hoạt động của mình, VOICE liên tục bị cáo buộc là một chi nhánh ngầm của đảng Việt Tân, để giúp đảng này tuyển thành viên, đưa người vào Việt Nam, và thâm nhập vào xã hội dân sự để thao túng. Ngoài những liên kết trực tiếp giữa VOICE và Việt Tân về nguồn vốn và hoạt động, các cáo buộc này còn ít nhiều xuất phát từ lí lịch của sáu thành viên chủ chốt đầu tiên. Trừ ông Hội và Max Võ, cả bốn thành viên còn lại đều là thành viên hoặc thân hữu của đảng Việt Tân.

Ông Đoàn Việt Trung, hành nghề kỹ sư, là một trong những người sáng lập Liên hội Ái hữu Việt kiều Tự do vào tháng 12 năm 1977 (5). Sau này, Liên hội đổi tên thành Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang Úc châu. Ông Trung là thành viên Ban Chấp hành của tổ chức này trong ba nhiệm kỳ, và giữ chức Chủ tịch từ năm 1999 đến năm 2004. Trong cộng đồng người gốc Việt ở Úc, có dư luận cho rằng Cộng đồng Người Việt Tự do là một đoàn thể bị Việt Tân kiểm soát, dựa trên lượng thành viên của đảng Việt Tân nắm những chức vụ quan trọng trong tổ chức này (6). Chẳng hạn, ông Nguyễn Đỗ Thanh Phong, Phó Chủ tịch phụ trách Ngoại vụ dưới quyền ông Đoàn Việt Trung, cũng là đại diện của đảng Việt Tân tại Sydney vào năm 2006 (7).

Ông Hoàng Tứ Duy tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam, tên thường gọi là “Mặt trận Hoàng Cơ Minh”, từ năm 1996. Bố ông Duy là ông Hoàng Cơ Định, em trai ông Hoàng Cơ Minh. Năm 2001, ông Duy có tên trong Ban Lãnh đạo Mặt trận này. Năm 2004, Mặt Trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam đổi tên thành Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng, gọi tắt là đảng Việt Tân. Hiện nay (năm 2017), ông Duy tiếp tục là thành viên Ban Lãnh đạo của đảng Việt Tân, và đang đóng vai trò người phát ngôn của tổ chức này. Bố ông, ông Hoàng Cơ Định, và người quản trị tài chính của Mặt trận cũ từ thập niên 1980, và hiện giữ chức Tổng vụ trưởng Vụ tổ chức Trung ương, Ủy viên thường trực đặc trách Vụ tài chính kiêm Ủy viên Trung ương Đảng, Ban bí thư Trung ương Đảng. Ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch hiện nay của đảng Việt Tân, là con trai bà Hoàng Thị An, chị ruột ông Hoàng Cơ Minh, nên cũng là một thành viên trong gia đình ông Duy.

02

Tiểu sử ông Hoàng Tứ Duy trên trang giới thiệu Ban Lãnh đạo Đảng Việt Tân

Theo lời kể của ông Trịnh Hội (3), ông Hội quen ông Hoàng Tứ Duy từ cuối thập niên 1990. Ông Hội nhiều lần đến ở nhà ông Duy, và được ông Duy giới thiệu với hai ông Nguyễn Văn Châu và Chu Quang Ngọc. Cả ông Châu và ông Ngọc đều là cảm tình viên của đảng Việt Tân. Trong khi đó, bà Lisa Nguyễn Thùy Dương từng nhiều lần làm MC trong các sự kiện do đảng Việt Tân tổ chức.

Tuy vậy, trong bài viết vào năm 2016 (3) ông Hội khẳng định rằng cho đến khi về nước vào năm 2007, để rồi “bị các anh công an gọi lên, gọi xuống trong vòng 6 tháng”, ông không hề biết ông Hoàng Tứ Duy tham gia đảng Việt Tân. Tuyên bố này có lẽ không có nhiều trọng lượng, vì ông Hội về nước vào tháng 9 năm 2007. Trong khi đó, ông làm việc với ông Duy trong Hội đồng Quảng trị của VOICE từ tháng 5 năm 2007, và tháng 6 năm 2007, tại quốc hội Mỹ, ông Duy là đại diện của đảng Việt Tân, được mời để đọc báo cáo của đảng về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Cũng trong năm 2007, ông Duy bỏ việc để làm toàn thời gian cho đảng Việt Tân.

Trong bài viết năm 2016, ông Hội cũng khẳng định rằng ông “chưa bao giờ tham gia vào bất kỳ tổ chức, đảng phái chính trị nào”. Việc Việt Tân kiểm soát VOICE, theo ông, chỉ đến từ sự “thổi phồng, đánh tráo sự thật” của “đảng Cộng sản Việt Nam và những ai đó”.

Theo thông tin đăng tải trên website của VOICE, Trịnh Hội (sinh năm 1970) là một luật sư người Úc gốc Việt, “tốt nghiệp bằng nghệ thuật và luật năm 1995 tại Đại học Melbourne (Úc) và bằng thạc sĩ tại Đại học Oxford (Anh)”. Website của VOICE cũng cho biết ông Hội “nhận giải người trẻ Úc – Việt tiêu biểu năm 1998”, “được công nhận là một trong những luật sư trẻ hàng đầu trong Giải thưởng Luật sư trẻ Australia 1999”, và “vinh dự được trọn rước đuốc cho Olympic Sydney 2000”.

Những tờ báo giải trí trong nước khẳng định rằng ông Hội “thân thiết với vua Bhutan” từ năm 2002, khi hai ông còn là bạn học tại Đại học Oxford (9).

(ảnh 04 và 05 – “Trịnh Hội chụp ảnh với vua Bhutan, ông Jigme Wangchuck, khi còn là bạn học tại Oxford (trên), và trong lễ lên ngôi của ông này (dưới)”)

Đầu thập niên 1990, ông rời Úc sang Hương Cảng, và sau đó là Philippines để hoạt động thiện nguyện. Ở Philippines, ông thành lập một văn phòng trợ giúp pháp lý để hỗ trợ những người Việt Nam vượt biên tới đây tị nạn, nhưng chưa được nước nào cho phép nhập cư. Theo lời kể của ông Hội, thì trong 10 năm, từ 1997 đến 2007, ông “chỉ được phát cho $100/tháng từ quĩ của văn phòng”, do chính ông và bạn bè quyên góp (3). Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy thu nhập từ các hoạt động thiện nguyện của ông Trịnh Hội đã không dừng lại ở con số này. Trong bài viết chất vấn của mình, ông Nguyễn Thanh Tú, con trai cố ký giả Nguyễn Đặng Phong, đã đưa ra một loạt hồ sơ và hóa đơn để chứng minh rằng từ năm 2005 đến năm 2007, ông Hội đã mua ba căn nhà có tổng trị giá 2,5 triệu USD (10). Bài này cũng đưa ra giả thuyết rằng thu nhập của ông Hội còn đến từ khoản tiền mà ông quyên góp cho các hoạt động thiện nguyện. Cụ thể, chỉ trong hai đợt quyên góp dưới danh xưng LAVAS, hai ông Trịnh Hội và Nguyễn Quốc Lân đã thu được trên 300.000 USD. LAVAS là tên viết tắt của “Legal Assistance for Vietnamese Asylum Seekers” – một chương trình có từ năm 1990 của tổ chức Boat People SOS. Tuy nhiên, vào năm 2005, LAVAS chỉ còn là một chương trình trực thuộc Boat People SOS, và không còn đăng ký hoạt động với Sở Thuế Liên bang. Trả lời báo Houston Chronicle vào ngày 10 tháng 5 năm 2005, ông Nguyễn Quốc Lân cho biết ông đã đăng ký một tổ chức LAVAS khác, như một công ty tư nhân chứ không phải như một tổ chức phi lợi nhuận (11). Trả lời tờ Houston Chronicle, nhân viên Phòng Thuế Vụ của tiểu bang California cho biết: “các tổ chức được miễn thuế phải công bố hồ sơ tài chính. Nhưng hồ sơ tài chính của công ty tư như LAVAS thì được giữ bí mật”. Như vậy, không ai biết công ty LAVAS mới này (không hề trực thuộc LAVAS của Boat People SOS) đã tiêu các khoản tiền quyên góp như thế nào, trừ ông Hội và ông Lân.

Thêm vào đó, khi ông Nguyễn Thanh Tú nói chuyện với văn phòng hữu trách của bang California, nhân viên văn phòng cho biết không hề có công ty hay hội đoàn mang tên LAVAS nào đăng ký hoạt động với tiểu bang này, như lời ông Lân tuyên bố trên Houston Chronicle. Trên website của tiểu bang cũng không có hồ sơ nào mang tên LAVAS.

Cũng theo bài trên Houston Chronicle, Bộ Ngoại giao Mỹ đã khẳng định rằng họ “không cần và không chào đón sự giúp đỡ của luật sư người Việt nào trong việc định cư số người còn kẹt lại ở Philippines”. Như vậy, sự “hỗ trợ pháp lý” mà văn phòng của Trịnh Hội cung cấp cho những người vượt biên này là hoàn toàn không có giá trị.

Năm 2004, ông Hội làm đám cưới với bà Nguyễn Cao Kỳ Duyên ở Philippines. Bà Duyên là con gái ông Nguyễn Cao Kỳ, người từng mang hàm thiếu tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa và giữ chức Phó Tổng thống. Theo các tờ báo giải trí trong nước, ông Hội gặp bà Duyên lần đầu vào năm 2000, trong một buổi văn nghệ từ thiện do ông tổ chức (12). Tháng 12 năm 2008, ông Hội và bà Duyên li hôn. Báo An ninh Thế giới, một tờ báo của cơ quan công an Việt Nam, lí giải cuộc li hôn này như sau (13):

“Trước khi li dị, Trịnh Hội đã sử dụng hộp thư điện tử của bà Kỳ Duyên để tán phát một số bài viết xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam, đồng thời cung cấp số điện thoại, địa chỉ của các Đại sứ quán, Cơ quan công quyền Việt Nam ở trong và ngoài nước để kêu gọi “khủng bố” bằng hình thức gửi email phản đối việc Cơ quan An ninh Việt Nam đã tạm giữ anh ta vì anh ta là thành viên cốt cán của đảng Việt Tân.

Những bài viết ấy được Trịnh Hội và tổ chức khủng bố Việt Tân tung lên mạng Internet cùng nhiều hộp thư điện tử của nhiều cá nhân. Kết quả là đã một thời, dư luận lấy làm kinh ngạc, không hiểu vì sao bà Kỳ Duyên lại hành xử như thế trong lúc cha bà – ông Nguyễn Cao Kỳ đã về thăm quê hương nhiều lần và được Nhà nước Việt Nam rất ưu ái. Chẳng đặng đừng, bà Kỳ Duyên phải lên tiếng thanh minh. Sau đó hai người ly hôn”.

Trong khi đó, trả lời các tờ báo giải trí trong nước, bà Duyên tuyên bố bà và ông Hội ly hôn do “phải xa nhau quá nhiều”. Tuy nhiên, cả bà và ông Hội đều chưa từng bác bỏ, hoặc đề cập đến lời lí giải của báo An ninh Thế giới.

Từ một ca sĩ và MC nghiệp dư, chỉ biểu diễn trong những buổi tiệc gây quĩ từ thiện mà cộng đồng người gốc Việt ở nước ngoài tổ chức, Trịnh Hội đã dần trở thành người có địa vị trong ngành giải trí Việt Nam. Năm 2005, ông Hội làm MC cho Trung tâm Asia, trung tâm sản xuất ca nhạc lớn nhất của người Mỹ gốc Việt. Năm 2006, ông trở thành Giám đốc Điều hành của đài SBTN (Saigon Broadcasting Television Network), đài truyền hình lớn nhất trong số các đài người gốc Việt ở nước ngoài (14). Từ tháng 9 năm 2007 đến cuối tháng 8 năm 2008, ông ở Việt Nam để đóng phim “14 ngày phép”.

 

Chú thích:

(1) http://vietnamvoice.org/about-us/

(2) http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/03/160307_nguyen_ngoc_bich_by_trinh_hoi

(3) https://voice-europe.org/2016/05/04/viet-tan-voice-va-toi-trinh-hoi/

(4) http://www.viettan.org/Leadership.html

(5) http://antg.cand.com.vn/Su-kien-Binh-luan-antg/Nhom-loi-dung-Cong-dong-nguoi-Viet-tu-do-lien-bang-Uc-chau%E2%80%A6-294126/

(6) http://www.tinparis.net/thoisu12/2012_05_11_NhomthieusoVietTandieuKhienCongDongUcChau_LeThanhTam_coivayMKPVay.html

(7) http://www.bbc.com/vietnamese/programmes/story/2006/08/agendaweek35_2006_thehemotruoisydney.shtml

(8) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Human_Rights_concerns_in_Vietnam_TTruc-20071107.html

(9) http://ngoisao.net/tin-tuc/hau-truong/trinh-hoi-than-thiet-voi-vua-bhutan-2530712.html

(10) https://damphong.com/2016/05/06/thong-bao-12-trinh-hoi-luong-moi-thang-100-nha-ba-can-2500-000/

https://damphong.com/2016/05/13/t-h-o-n-g-b-a-o-1-4-giau-dau-v-o-i-c-e-ho%CC%89-duoi-v-i-e%CC%A3-t-t-a-n/

(11) http://www.chron.com/news/houston-texas/article/Stranded-Vietnamese-a-concern-to-local-community-1640265.php

(12) http://me.phununet.com/WikiPhununet/ChiTietWiki.aspx?StoreID=25827

(13) http://antg.cand.com.vn/Ho-so-Interpol/Trinh-Hoi-Con-roi-trong-tay-to-chuc-khung-bo-Viet-Tan-393740/

(14) https://damphong.com/2016/05/13/t-h-o-n-g-b-a-o-1-4-giau-dau-v-o-i-c-e-ho%CC%89-duoi-v-i-e%CC%A3-t-t-a-n/

 


 

II. Một công ty tổ chức sự kiện

Sẽ không sai nếu nói rằng trong giai đoạn đầu đời, VOICE là một công ty chuyên tổ chức sự kiện. Ngày 20 tháng 4 năm 2010, blog vietnamvoice.wordpress.com đăng một bản danh sách các hoạt động của tổ chức (ảnh dưới). Dưới tựa đề “Updates of VOICE’s activities”, có tổng cộng 10 hoạt động được liệt kê. Bốn trong số này là những lần họ phối hợp với một đoàn thể khác để tổ chức hội thảo. Ba trong số này là những cuộc gặp – bao gồm một lần họ được mời phát biểu trong tiệc tối của một hội thảo, một lần họ được gặp ông Kelly Ryan – Phó Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách về dân số tị nạn và di cư của Mỹ, và một lần họ được gặp Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch của Australia. Bản danh sách các hoạt động này liệt kê cả một lần họ dựng văn phòng, và một lần họ tuyên bố tách đôi thành hai tổ chức. Sau cùng, trong toàn bộ danh sách, chỉ có một hoạt động duy nhất mang tính chất của công việc thiện nguyện, là lần họ phối hợp với tổ chức Hope for Tomorrow để khám và điều trị y tế ở Siem Reap, Campuchia. Tất nhiên, trong sự kiện này, khám và điều trị y tế là phần việc của Hope for Tomorrow, còn phần việc của VOICE là tổ chức sự kiện.

06

Trong danh sách “10 việc đã làm” này, chỉ có hai việc họ làm một cách hoàn toàn tự lập, là việc dựng văn phòng cho mình, và việc tách đôi. Vì văn phòng của họ được dựng bằng tiền quyên góp được trong một buổi tiệc gây quĩ, và tách đôi là một phản ứng thụ động của họ trước chính sách của chính quyền Campuchia, có thể nói rằng sự tự lập ở đây cũng chỉ mang tính tương đối.

Tất nhiên, bản danh sách trên có thể không liệt kê đầy đủ các hoạt động của VOICE trong hai năm 2008 và 2009. Tuy vậy, qua cách họ liệt kê đầu việc, có thể thấy cái nhìn của họ về VOICE, và về công việc của bản thân. Tiền thân của VOICE là các hoạt động thiện nguyện trong giai đoạn 1997 – 2007 của Trịnh Hội, mà hầu hết là các buổi tổ chức văn nghệ để gây quĩ trong cộng đồng người gốc Việt ở nước ngoài. Vì vậy, sự gắn bó của họ với các hoạt động tổ chức sự kiện là điều dễ hiểu.

Sự lệ thuộc của VOICE vào các buổi văn nghệ gây quĩ được thể hiện rõ trong một bài viết trên Việt Báo, mang tựa đề “Virginia: Nhóm thiện nguyện trẻ VOICE giúp tị nạn, phụ nữ” (1). Được đăng tải vào ngày 20 tháng 4 năm 2007, không lâu sau ngày VOICE thành lập, và trước buổi tiệc ra mắt hôm 5 tháng 5, bài này là tài liệu đáng tin cậy về các mục tiêu và hoạt động của VOICE lúc sơ khởi. Theo bài viết, ban đầu, VOICE được thành lập để thực hiện ba mục tiêu:

“_ Giúp người tỵ nạn còn kẹt lại ở Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Cao Miên, Thái Lan gần hơn 17 năm. Tại Cao Miên có một số hồ sơ tỵ nạn vì đàn áp tôn giáo, trốn sang Cao  Miên và được Cao Ủy Tỵ Nạn  chấp nhận là người tỵ nạn. Văn phòng của VOICE sẽ tiếp tục vận động cho những hồ sơ này.

_ Giúp những phụ nữ và trẻ em Việt Năm trong tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em Việt Năm ở Đông Nam Á như Miên, Thái..

_ VOICE cũng cấp học bổng cho những người đã tốt nghiệp đại học ở VN mà vì quá nghèo không có cơ hội để đi ra nước ngoài. VOICE sẽ cho những người đã học hành xong ở VN sang Phi để học thêm tiếng Anh, vì một trong những ngôn ngữ chính của Phi là tiếng Anh. Và đây cũng là cơ hội để giúp cho họ học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức về xã hội dân sự và luật pháp quốc tế”.

Cần lưu ý rằng vào năm 2007, ở Việt Nam không thiếu các lớp dạy tiếng Anh. Mặt khác, vì ông Trịnh Hội về Việt Nam để đóng phim trong năm này, ông hoàn toàn đủ điều kiện để mở một lớp dạy tiếng Anh, hoặc cấp học bồng để thanh niên có hoàn cảnh khó khăn được theo học những lớp tiếng Anh có sẵn trong nước. Vì hầu hết tiền học bổng không được dùng để trả học phí, mà được dùng để lo chi phí ăn ở và đi lại cho người học, nếu VOICE cấp học bổng để thanh niên học tiếng Anh ngay trong nước, họ chắc chắn sẽ giúp được nhiều người hơn gấp bội so với trường hợp họ đưa người sang Philippines. Như vậy, có thể hiểu rằng ngay từ những ngày đầu hoạt động, mục tiêu của VOICE đã không giống như lời tuyên bố chính thức. Giữa việc chính, là dạy tiếng Anh cho những người Việt Nam “quá nghèo”, và việc phụ, là “giúp cho họ học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức về xã hội dân sự và luật pháp quốc tế”, có lẽ VOICE quan tâm đến vế thứ hai hơn.

Bài viết cũng đề cập đến việc bà Lisa Thùy Dương, Giám đốc Điều hành của VOICE, là người “trúng tuyển giải nhất MC trong kỳ thi tuyển lựa “Tài Năng Trẻ” do SBTN và Trung Tâm Asia tổ chức hồi tháng 2, 2007”.

Trong bài, bà Thùy Dương khẳng định sự lệ thuộc của VOICE vào những buổi văn nghệ gây quỹ:

“…Văn Phòng ở Phi Luật Tân hiện có tám người, chi phí một tháng khoảng 3000 mỹ kim do những cuộc gây qũy ở Úc, Canada và Mỹ. Nhờ có văn phòng này giúp đỡ mà hai ngàn đồng bào tỵ nạn Việt ở Phi được đến định cư ở HK gần đây.

Từ đây đến cuối năm VOICE dự định sẽ mở thêm một văn phòng nữa ở Cao Miên…”

“…Để có ngân khoản thực hiện ba văn phòng, VOICE trông cậy vào những buổi gây quỹ ở Mỹ, Canada và Úc. Vào ngày 5 Tháng Năm, 2007 sẽ có một buổi gây quỹ và ra mắt nhóm thiện nguyện VOICE ở: Westin Arlington Gateway, 801 North Glebe Road, Arlington, VA. Từ 6:30 pm – 12am, với ba ca sĩ nổi tiếng từ Cali như Thanh Hà, Nguyên Khang và Loan Châu. Giá vé là $100/vé, vé ủng hộ $200/vé”.

Tuy nhiên, ngay cả khi đã đa dạng hóa nguồn tài chính, VOICE vẫn tỏ ra gắn bó với những buổi văn nghệ gây quỹ kiểu này. Có thể nói rằng trong suốt 10 năm tồn tại, từ 2007 tới nay, hoạt động liên tục, đều đặn, ổn định và có tính truyền thống nhất của VOICE là tổ chức liên hoan văn nghệ để gây quỹ.

Chẳng hạn, trong ngày 23 và 25 tháng 1 năm 2015, chỉ riêng chi nhánh châu Âu của VOICE đã liên tục tổ chức hai buổi văn nghệ gây quỹ ở Brussels và Paris, với mục đích “hỗ trợ sự phát triển của xã hội dân sự Việt Nam” (2). Cùng thời điểm đó, các cảm tình viên của họ ở Munich cũng tổ chức buổi văn nghệ gây quỹ cho hai “đoàn thể dân sự”, là Con đường Việt Nam và Nhịp cầu Hoàng Sa. Ngày 7 tháng 2 năm 2015, VOICE Canada tổ chức buổi văn nghệ để gây quỹ cho các thương, phế binh Việt Nam Cộng hòa (3). Trong ba ngày 13, 27 và 28 tháng 6 năm 2015, VOICE Canada liên tục tổ chức ba buổi văn nghệ ở Edmonton, Toronto và Ottawa, với mục đích tương tự (4). Trong bốn ngày 17, 18, 19 và 25 tháng 7 năm 2015, VOICE Australia liên tục tổ chức bốn buổi văn nghệ tại Sydney, Perth, Melbourne và Brisbane, để gây quỹ giúp các “thuyền nhân” Việt Nam (5). Ngày 15 tháng 8 năm 2015, VOICE tổ chức buổi văn nghệ tại San Jose, để gây quỹ cho việc “bảo vệ nhân quyền và phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam”, đồng thời ”tiếp tục công việc giúp đỡ người tị nạn” (6). Ngày 6 tháng 9 năm 2015, tại Houston, VOICE tổ chức buổi văn nghệ kỷ niêm 10 năm hình thành cộng đồng, nhân tiện gây quỹ giúp định cư người Syria tị nạn (7). Ngày 3 tháng 10 năm 2015, VOICE Europe tổ chức một đêm văn nghệ gây quỹ để xây trường học cho trẻ em Nepal (8). Cùng ngày, VOICE Canada tổ chức một buổi gặp mặt ở chùa Pháp Vân, quyên được $10.000 để giúp định cư người Syria tị nạn (9).

Như vậy, riêng trong năm 2015, VOICE đã tổ chức tối thiểu 15 buổi văn nghệ gây quỹ, để giúp đỡ nhiều đối tượng – cả xã hội dân sự, thương phế binh, nạn nhân động đất lẫn người tị nạn; cả người gốc Việt, người Syria lẫn trẻ em Nepal. Tổng số buổi văn nghệ được tổ chức trong năm này có lẽ còn lớn hơn, vì trên đây chỉ là những buổi mà chúng tôi tìm thấy trên Google.

Các buổi liên hoan văn nghệ gây quỹ dường như đã trở thành một hoạt động mang tính truyền thống, và gắn bó với bản sắc của VOICE, dù giờ đây, tổ chức này không còn quá lệ thuộc vào nguồn vốn từ cộng đồng, và công nghệ hiện đại cũng đã cho phép họ chọn nhiều hình thức khác để gây quỹ.

Trong suốt 10 năm hoạt động của VOICE, cấu trúc các buổi liên hoan văn nghệ mà họ tổ chức cũng không thay đổi. Sau phần giới thiệu của ban tổ chức, mọi buổi văn nghệ đều bao gồm đầy đủ những bước sau:

_ Chiếu phim hoặc diễn thuyết về một chủ đề chính trị. Thường thì chủ đề được chọn ít nhiều liên quan đến mục đích sử dụng của khoản quỹ. Chẳng hạn, buổi văn nghệ gây quỹ ngày 4 tháng 10 năm 2007 tại Nam California được mở đầu bằng bộ phim tài liệu ngắn mang tên “Stateless Vietnamese In The Philippines” (10). Trong buổi văn nghệ gây quỹ được tổ chức ngày 9 tháng 8 năm 2009 ở Virginia, họ chiếu một đoạn phim ngắn do International Organization Migration thực hiện, mô tả tình cảnh của những cô gái làm nghề mại dâm, trước khi gây quỹ để giúp những phụ nữ và trẻ em gốc Việt ở Campuchia bị bán làm nô lệ tình dục (11).

_ Một số cá nhân tham gia buổi văn nghệ, hoặc đôi lúc là cả hội trường, đứng dậy để “lên tiếng” về vấn đề chính trị vừa được nêu ra trong đoạn phim hoặc bài diễn văn trước đó. Chẳng hạn, trong buổi văn nghệ được tổ chức ở Bruxells ngày 21 tháng 5 năm 2016, “toàn thể hội trường đồng thanh tố cáo sự vô trách nhiệm của chính quyền Việt Nam trong biến cố hãng Formosa thải chất độc tại Vũng Áng, làm ô nhiễm nặng nề 200 cây số biển miền Trung” (12). Qua một loạt ảnh chụp được họ đăng lên để làm truyền thông, có thể thấy phần này của buổi văn nghệ hội đủ tính chất của một cuộc biểu tình cỡ nhỏ.

07

_ Xem trình diễn ca nhạc và ăn uống.

_ Ủng hộ tiền cho quỹ, bằng cách góp tiền trực tiếp, hoặc tham gia mua đấu giá một mặt hàng tượng trưng. Chẳng hạn, trong buổi văn nghệ gây quỹ ngày 4 tháng 10 năm 2007 tại Nam California, một phần quỹ thu được đến từ tiền bán tranh. Trong buổi tiệc mừng VOICE Australia tròn 5 tuổi, Ban Tổ chức đã bán đấu giá một cây đàn guitar “có chữ ký của các nghệ sĩ ở châu Âu và Hoa Kỳ trên thân đàn”, và thu được 10.000 AUD.

 

Ông Trịnh Hội đi quyên tiền trong buổi văn nghệ ở Bruxells, ngày 21 tháng 5 năm 2016

Cây đàn guitar “có chữ ký của các nghệ sĩ ở châu Âu và Hoa Kỳ”, được bán đấu giá trong buổi sinh nhật VOICE Australia

Cây đàn guitar “có chữ ký của các nghệ sĩ ở châu Âu và Hoa Kỳ”, được bán đấu giá trong buổi sinh nhật VOICE Australia

Trong những buổi liên hoan văn nghệ của VOICE, không có khoảng cách giữa chính trị, từ thiện, nghệ thuật và giải trí.

 

Chú thích:

(1) https://vietbao.com/a117929/virginia-nhom-thien-nguyen-tre-voice-giup-ti-nan-phu-nu

(2) http://vietnamvoice.org/2015/03/voices-activities-in-january-2015/

(3) https://m.facebook.com/VOICECanada2014/posts/709329399186534

(4) https://youtu.be/1nfaNQRjt0I

(5) https://www.facebook.com/thanhuuviettanucchau/posts/638055726331677

(6) https://youtu.be/UOCz0wYcL7Q

(7) http://www.sbtn.tv/aylan-kurdi-oi-em-da-chet-cho-moi-nguoi-duoc-song-nam-loc/

(8) https://voice-europe.org/2015/12/17/dem-van-nghe-vao-thu-310-the-hien-tinh-than-lien-doi-voi-nepal-nguyen-gia-thuong/

(9) https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/VOICE-Canada-gay-quy-giup-dinh-cu-nguoi-Syria-5642/

(10) http://forum.trungtamasia.com/yaf_postst5767_Tuong-Trinh-ve-Dem-Ca-Nhac-Gay-Quy-cua-VOICE.aspx

(11)  https://vietbao.com/a122662/cho-em-niem-uoc-mo-voice-gay-quy-giup-nan-nhan-no-le-tinh-duc-o-cambodia

(12) https://voice-europe.org/2016/09/12/dem-gala-2105-tai-bruxelles/

 


 

III. Vụ trục xuất khẩn cấp khỏi Campuchia

Ngày 11 tháng 6 năm 2007, khoảng hai tháng sau khi VOICE được thành lập, Việt Báo đăng tải một bài viết mang tên “Bán trinh trẻ em Việt Nam ở Cambodia” (1). Bài dẫn số liệu để khẳng định rằng 52% số gái mại dâm ở Phnompenh là phụ nữ và trẻ em gốc Việt. Sau khi mô tả thực trạng buôn bán nô lệ tình dục và tình cảnh của các gái mại dâm gốc Việt ở Cambodia, bài đưa ra đoạn thông tin sau:

“Hiện nay không có một cơ quan từ  thiện nào  giúp người Việt ở Cambodia . VOICE là một nhóm chuyên gia trẻ người VN ở Mỹ, Úc, Canada đang cố gắng gây quỹ  mở văn phòng để giúp đỡ người Việt ở đây. Nếu  đồng hương muốn giúp VOICE có phương tiện giúp đồng bào  mình ở Cambodia thì xin liên lạc với Cô Thùy Dương (202) 544-2376”.

Tháng 7 năm 2008, VOICE mở văn phòng ở Siem Riep, Campuchia. VOICE Campuchia chính thức thành lập (2).

Ngày 6 tháng 6 năm 2009, Việt Báo đăng bài viết mang tên “VOICE làm từ thiện ‘Sen Hoa’ giúp trẻ em Việt Nam tại Cam Bốt” (3). Bài dẫn lời Thùy Dương và Uyển Diễm, hai thành viên của VOICE điều hành chương trình “Sen Hoa”. Họ giải thích rằng “Sen Hoa” là một chương trình gây quĩ từ thiện của VOICE, theo đó, những trẻ em Việt Nam được đưa ra khỏi các ổ mại dâm sẽ được họ hướng dẫn “tự tay làm những món quà trang sức bằng thủ công thật giá trị”. Cộng đồng người gốc Việt ở nước ngoài sẽ mua số đồ trang sức này từ VOICE để giúp đỡ số trẻ em đó.

Tháng 5 năm 2011, khi trả lời phỏng vấn VietSun Magazine, bà Thùy Dương giải thích ý nghĩa của cái tên “Sen Hoa” (4):

“…Trong một chuyến đi Cam Bốt, Thùy Dương nghe một bé gái 15 tuổi tên Quyên sau khi được cứu ra khỏi ổ mại dâm, Quyên nói rằng đối với em, bùn dơ đã trở thành quá khứ, còn bây giờ em như một đóa hoa nở đẹp hơn… Từ đó, Thùy Dương mới nghĩ ra tên Sen Hoa – nói lái đi của chữ Hoa Sen – ví cuộc đời của những em gái Việt Nam kém may mắn rơi vào chốn bùn dơ của tệ nạn buôn người, nhưng các em vẫn có những đức tính đáng quý như bông hoa sen mọc lên từ chốn bùn lầy nhưng vẫn giữ được sự tinh khiết, thơm tho”.

Bà Thùy Dương không giải thích vì sao khi đặt tên, bà không giữ nguyên từ Hoa Sen để đúng với ngữ pháp tiếng Việt, mà phải nói lái thành “Sen Hoa”.

Bà cũng cho biết thêm rằng siêu mẫu Coco Rocha người Canada đã đeo trang sức “Sen Hoa” trong đám cưới của mình, và hiện nay các thành viên VOICE đang cố gắng đưa nữ trang “Sen Hoa” “tiếp cận một số tài tử Hollywood”.

Ngày 10 tháng 11 năm 2009, chính quyền Campuchia ra lệnh rằng các thành viên VOICE phải rời khỏi Campuchia trong vòng 24 tiếng đồng hồ, nếu không sẽ bị bắt tạm giam. Theo thông cáo báo chí của VOICE, thì lệnh trục xuất này được đưa ra do chính quyền Campuchia cho rằng VOICE đang lợi dụng các hoạt động thiện nguyện của mình để “tổ chức những đoàn ca nhạc bất hợp pháp, nhằm chống nước láng giềng của Campuchia” (5). Trong thông cáo, ông Maxwell Võ, chủ tịch của VOICE khi đó, tuyên bố ông “mạnh mẽ phủ nhận lời buộc tội này”. Ông tuyên bố thêm: “Đây là một sự trì hoãn tai hại với những trẻ em và phụ nữ Campuchia đang lệ thuộc vào công tác của VOICE – vừa để được giải quyết các vấn đề gấp rút của mình, vừa để được hi vọng vào một tương lai tươi sáng”. Tuy nhiên, thông cáo không khẳng định rằng VOICE Campuchia không có hoạt động nào khác ngoài các hoạt động thiện nguyện.

Ngày 20 tháng 1 năm 2010, VOICE ra thông cáo báo chí để tuyên bố rằng VOICE và “Sen Hoa” sẽ tách thành hai đoàn thể độc lập với nhau (6). “Sen Hoa” sẽ đăng ký với chính quyền Campuchia để có tư cách hoạt động ở nước này như một tổ chức phi lợi nhuận. Trong khi đó, VOICE sẽ đóng cửa văn phòng ở Siem Riep từ tháng 12 năm 2009 và rút khỏi Campuchia.

Đầu thông cáo, VOICE thừa nhận rằng chính quyền Campuchia đã “bày tỏ mối quan tâm về các hoạt động vận động chính trị của VOICE”.

Trong một bài viết được đăng tải ngày 13 tháng 5 năm 2016, ông Nguyễn Thanh Tú cáo buộc rằng VOICE Campuchia bị chính phủ nước này trục xuất không phải do các hoạt động từ thiện, mà vì văn phòng của VOICE ở Siem Riep “là trạm trung chuyển để Việt Tân đưa người từ Việt Nam sang Thái Lan” (7). Trong bài, ông Tú lưu ý rằng trong hai năm 2007 và 2008, ông Trịnh Hội không quản lí VOICE, vì ông đang ở Việt Nam để đóng phim giải trí. Các công việc của VOICE trong giai đoạn đó được điều hành bởi năm thành viên ban lãnh đạo đang ở nước ngoài, trong đó ngoài ông Maxwell Võ, cả bốn người còn lại đều đã được làm rõ là cảm tình viên hoặc cán bộ cao cấp của đảng Việt Tân.

Có hai chi tiết nữa ủng hộ giả thuyết của ông Nguyễn Thanh Tú. Thứ nhất, như đã trích trong mục trước, ngay từ tháng 4 năm 2007 – những ngày hoạt động đầu tiên, VOICE đã công khai khẳng định rằng họ đặt mục tiêu đưa các thanh niên Việt Nam nghèo ra nước ngoài “để giúp cho họ học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức về xã hội dân sự và luật pháp quốc tế”. Như vậy, việc dựng một trạm trung chuyển ở Campuchia là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu mà VOICE đã đặt.

Thứ hai, những diễn biến thời sự cho thấy trong giai đoạn 2007 – 2009, đảng Việt Tân cũng đang tìm cách thiết lập một tuyến đường chuyển người qua ngả Campuchia.

Ngày 17 tháng 11 năm 2007, một đảng viên Việt Tân tên Nguyễn Quốc Quân bị bắt. Trước đó, ông Quân đã làm một thẻ căn cước Campuchia giả, và “trực tiếp xâm nhập từ Campuchia về Việt Nam qua cửa khẩu Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh)”. Theo thông tin từ Cơ quan An ninh Điều tra của Bộ Công an Việt Nam, mà báo Sài Gòn Giải phóng dẫn lại (9), thì:

“Đến tháng 8-2006, Nguyễn Quốc Quân được tổ chức “Việt Tân” phân công tham gia kế hoạch “Sang sông”, lấy tên giả Ly Seng, trực tiếp xâm nhập từ Campuchia về Việt Nam qua cửa khẩu Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh). Đây là kế hoạch do tổ chức “Việt Tân” vạch ra nhằm đưa người về Việt Nam dưới hình thức thăm thân nhân, du lịch và cho người xâm nhập trái phép qua ngả biên giới Việt Nam – Campuchia, với mục đích thiết lập đường dây vận chuyển vũ khí, chất nổ vào Việt Nam, tiến hành khủng bố”.

Ngày 9 tháng 5 năm 2009, chính quyền Việt Nam bắt ông Nguyễn Văn Bé, một đảng viên khác của Việt Tân. Theo lời khai của ông Bé, ông bay từ Australia đến thành phố Hồ Chí Minh trước đó tròn một tháng. Tường thuật vụ việc, báo An ninh Thế giới có đoạn (10):

“Theo chỉ đạo của Đặng Quốc Sủng, Lê Ánh, Nguyễn Văn Bé đã mua một máy chụp ảnh và học cách sử dụng vì nhiệm vụ của Việt Tân giao cho Bé là khi về Việt Nam,  trong vai khách du lịch, Bé đi chơi nhiều nơi, chụp nhiều hình nhưng trong đó, phải chụp cho được cửa khẩu Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh cùng các lối mòn dọc theo hai bên cánh gà cửa khẩu, đồng thời tìm hiểu quy luật qua lại của người dân vùng giáp biên giới Việt Nam, Campuchia. Bên cạnh đó, Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP HCM cũng là mục tiêu mà Nguyễn Văn Bé phải chụp hình”.

Cần lưu ý rằng ngay từ tháng 4 năm 2007, hai tháng sau ngày đăng ký thành lập, VOICE đã tuyên bố rằng “từ đây đến cuối năm VOICE dự định sẽ mở thêm một văn phòng nữa ở Cao Miên” (8). Thời điểm của những nỗ lực này tình cờ trùng khớp với giai đoạn các đảng viên Việt Tân về nước thăm dò để tìm cách thiết lập đường dây chuyển người qua biên giới Việt Nam – Campuchia. Sau khi VOICE bị trục xuất khỏi Campuchia, không còn đảng viên Việt Tân nào bị bắt vì liên quan đến tuyến đường này nữa.

Tuy nhiên, vào lúc này, quan điểm của ông Nguyễn Thanh Tú vẫn chỉ nên được xem như một giả thuyết để tham khảo, vì chúng ta chưa có đủ dữ kiện để đưa ra kết luận sau cùng.

Sau vụ việc này, năm 2010, hai sáng lập viên của VOICE là bà Lisa Thùy Dương và ông Hoàng Tứ Duy cùng rời khỏi tổ chức mà không thông báo nguyên nhân. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục cộng tác chặt chẽ với VOICE trong nhiều hoạt động chính trị, văn hóa và giải trí của cộng đồng người gốc Việt ở nước ngoài, mà một ví dụ là Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam Thế giới kỳ 6.

 

Chú thích:

(1) https://vietbao.com/a97283/ban-trinh-tre-em-viet-nam-o-cambodia

(2) https://vietnamvoice.wordpress.com/

(3) https://vietbao.com/a122327/voice-lam-tu-thien-sen-hoa-giup-tre-viet-tai-cam-bot

(4) http://forum.trungtamasia.com/yaf_postst393_Thuy-Duong-va-sen-hoa.aspx

(5) http://files.meetup.com/184719/VOICE%20PRESS%20RELEASE.pdf

(6) https://vietnamvoice.wordpress.com/2010/04/20/voice-and-senhoa-separate/

(7) https://damphong.com/2016/05/13/t-h-o-n-g-b-a-o-1-4-giau-dau-v-o-i-c-e-ho%CC%89-duoi-v-i-e%CC%A3-t-t-a-n/

(8) https://vietbao.com/a117929/virginia-nhom-thien-nguyen-tre-voice-giup-ti-nan-phu-nu

(9) http://www.baomoi.com/bat-giu-nguyen-quoc-quan-ve-toi-khung-bo-nham-chong-chinh-quyen-nhan-dan/c/8364208.epi

(10) http://antg.cand.com.vn/Ho-so-Interpol/Pha-vo-mot-am-muu-khung-bo-cua-nhom-phan-dong-Viet-Tan-294628/

 


 

IV. Tham gia Ban Tổ chức Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam thế giới

Trong những sự kiện mà VOICE từng tham gia tổ chức, hai kì Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam thế giới, diễn ra vào năm 2008 và 2011, có một tầm quan trọng nổi bật.

Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam thế giới (sau đây gọi tắt là Đại hội) là chuỗi sự kiện gắn liền với tổ chức Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường. Mạng lưới này được thành lập vào năm 1999, ngay sau khi Đại hội 1 được tổ chức ở Melbourne, Australia. Theo lời tự giới thiệu của họ, thì tổ chức này tập hợp “các nhà lãnh đạo trẻ từ khắp 5 châu thiết tha quan tâm đến tương lai của đất nước Việt Nam” (1). Hoạt động của Mạng lưới này, và của các kỳ Đại hội mà nó tổ chức hai năm một lần, được tuyên bố là hướng đến ba mục tiêu:

“_ Kết nối giới trẻ Việt Nam từ khắp năm châu trong việc tạo sự nhận thức về bản sắc văn hóa và trách nhiệm của chúng ta, để chúng ta có thể cùng chung tay trong các công việc nhân đạo, quảng bá nhân quyền và dân chủ ở khắp nơi trên thế giới cũng như Việt Nam.

_ Hình thành một mạng lưới bao gồm các tổ chức và cá nhân ở khắp năm châu để cùng nhau chia xẻ những suy tư, trao đổi kiến thức, và hỗ trợ lẫn nhau.

_ Khuyến khích sự trao đổi, tham gia, và hoạt động cho những dự án có lợi cho đất nước Việt Nam, trên bình diện địa phương và quốc tế”.

Người sáng lập Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường cũng chính là Trưởng Ban Tổ chức Đại hội 1, ông Nguyễn Đỗ Thanh Phong. Ông Phong sinh năm 1970, tốt nghiệp Bác sỹ tại Australia. Ông cũng tham gia Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang Úc châu, và trở thành Phó Chủ tịch phụ trách Ngoại vụ của tổ chức này trong nhiệm kì 2001 – 2003, khi ông Đoàn Việt Trung đang giữ chức Chủ tịch (2). Như ở trên đã đề cập, ông Đoàn Việt Trung là sáng lập viên và Chủ tịch hiện tại của VOICE.

Ông Nguyễn Đỗ Thanh Phong cũng tham gia đảng Việt Tân từ năm 1998, và là thành viên Trung ương Đảng bộ từ năm 2006 cho đến thời điểm hiện tại.

Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam Thế giới kỳ 5 được tổ chức ở Kuala Lumpur, Malaysia, từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 1 năm 2008. Ảnh dưới là bản thông báo của Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường về Đại hội, trong đó nêu rõ chủ đề chính, bốn đề tài được chọn để trao đổi, và những diễn giả sẽ tham gia:

10

Qua thông báo, có thể thấy rằng hai thành viên VOICE, là bà Nguyễn Thùy Dương Lisa, Giám đốc Điều hành, và ông Nguyễn Bá Vương, quản trị viên văn phòng VOICE Philippines, phụ trách toàn bộ việc diễn thuyết cho đề tài cuối. Ngoài ra, ông Hoàng Tứ Duy, một thành viên khác trong Hội đồng Quản trị VOICE thời đó, là diễn giả Việt Nam duy nhất phụ trách đề tài thứ ba. Ngoài ra, bà Nguyễn Thùy Dương, Giám đốc Điều hành lúc đó của VOICE, là MC của Đại hội (3).

Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam Thế giới kỳ 5

Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam Thế giới kỳ 5

Từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 8 năm 2011, Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam Thế giới kỳ 6 được tổ chức ở Manila, Philippines. Logo của VOICE và Senhoa chiếm hai vị trí đầu tiên trong danh sách những tổ chức tham gia Đại hội (4). Đại hội có tổng cộng năm diễn giả gốc Việt, ba trong số đó là Trịnh Hội, Lisa Thùy Linh và Hoàng Tứ Duy – tức các thành viên hoặc cựu thành viên ban lãnh đạo VOICE (5). Hai đơn vị truyền thông quan trọng nhất trong chiến dịch quảng bá Đại hội này là Trung tâm Asia – mà ông Trịnh Hội tham gia từ năm 2005, còn bà Thùy Dương tham gia từ năm 2007, và đài SBTN – mà ông Trịnh Hội làm Giám đốc Sản xuất từ năm 2009. Cụ thể, để quảng bá và kêu gọi ủng hộ tài chính cho Đại hội, đài SBTN và Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường phối hợp tổ chức một buổi văn nghệ, được chiếu trực tiếp trên đài vào ngày 12 tháng 6 (6). Sang tháng 7, để kêu gọi giới trẻ tham gia Đại hội, đài SBTN thực hiện một buổi phỏng vấn bà Lily Ngọc Hiếu Nguyễn – thành viên Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường kiêm đảng viên Việt Tân (7). Buổi phỏng vấn do cô Lisa Thùy Dương thực hiện.

Trong kì Đại hội này diễn ra một sự cố nổi tiếng. Ngày 7 tháng 8 năm 2011, website của Đại hội đăng tải một thông cáo báo chí khẳng định rằng “An ninh Cộng sản Việt Nam theo dõi và đe dọa Đại hội”. Hiện nay, bản thông cáo nguyên văn đã bị xóa hoàn toàn khỏi Internet, chỉ còn sót lại một thông báo ngắn hơn (8). Chúng ta chỉ có thể biết nội dung của bản thông cáo này qua lời tường thuật lại của RFA, đăng vào ngày 8 tháng 8 (9). Trong bài của RFA có đoạn như sau:

12

Ngoài ra, Ban Tổ chức Đại hội 6 còn đăng ảnh chụp passport của ông Thái Văn Dung lên website của Đại hội. Tuy nhiên, hiện bài đăng này cũng đã bị xóa.

Vào lúc 2h sáng ngày 19 tháng 8 năm 2011, cảnh sát Việt Nam bất ngờ bắt ông Thái Văn Dung tại nhà trọ của ông ở Cầu Giấy, Hà Nội (10). Cùng bị bắt để thẩm vấn có tất cả các bạn trọ cùng phòng của ông Dung. Sau hai tiếng thẩm vấn, các bạn cùng phòng của ông Dung được thả về, còn ông tiếp tục bị tạm giam. Sau đó, có thêm 14 thanh niên có quan hệ với ông Dung bị bắt, và một người khác bị truy nã. Tất cả số này đều là người Công giáo và Tin lành. Khi phiên tòa diễn ra trong hai ngày 8 và 9 tháng 1 năm 2013 kết thúc, 14 người bị bắt nhận tổng cộng 86 năm tù và 34 năm quản chế (11).

Ngày 29 tháng 8 năm 2011, và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một người viết blog nổi tiếng, đăng lên trang cá nhân của mình bài viết “Tôi cần có một câu trả lời” (12). Trong bài, bà cho rằng việc Ban Tổ chức Đại hội kỳ 6 công bố thông tin cá nhân và giấy tờ tùy thân của ông trên Internet, qua đó gián tiếp khẳng định rằng ông đã tham dự một sự kiện chính trị bị ngăn cấm bởi chính quyền Việt Nam, có liên quan đến việc ông bị bắt khi về nước. Theo lời bà Quỳnh trong bài, thì vào thời điểm đó, Ban Tổ chức Đại hội đã xóa bản Thông cáo Báo chí chứa những thông tin này. Bài viết của bà Quỳnh và sự lên tiếng của bạn bè ông Dung đã tạo ra một làn sóng công kích nhắm vào Ban Tổ chức Đại hội kỳ 6 và đảng Việt Tân.

Hai ngày sau, Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường ra một thông cáo báo chí, mang tựa đề “Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường phát động chiến dịch tranh đấu cho các thanh niên yêu nước” (13). Trong thông cáo có đoạn:

“Trong số các thanh niên trên, có anh Thái Văn Dung là người đã tham dự Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Thế Giới Kỳ 6 tại Phi Luật Tân vừa qua. Để bảo vệ sự an toàn của các tham dự viên từ trong nước và hải ngoại, Ban Tổ Chức đã phải trục xuất anh Thái Văn Dung ra khỏi Đại Hội vì anh đã tạo một số vấn đề an ninh. Dù anh Thái Văn Dung đã không tôn trọng nội quy của Đại Hội nhưng Mạng Lưới vẫn quan tâm tới việc anh vừa bị bắt và mong góp phần tranh đấu cho anh Dung và tất cả những bạn trẻ khác đang bị bắt giữ.

Là những người trẻ yêu chuộng tự do, chúng tôi không thể chấp nhận các vi phạm nhân quyền tại quê nhà. Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường sẽ phát động chiến dịch “Phải Lên Tiếng” để vận động cho các thanh niên yêu nước đang bị bắt cóc và giam giữ tùy tiện”.

Thông cáo không đề cập đến bài viết của bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và luồng dư luận liên quan.

Năm 2012, để đẩy mạnh chiến dịch “Phải Lên Tiếng”, đài SBTN thành lập Ủy ban Vận động Chính trị về Nhân quyền Việt Nam (Human Rights for Vietnam Political Action Committee – HRVN PAC).

Tháng 1 năm 2013, trên blog cá nhân của mình, ông Trịnh Hội kêu gọi mọi người cùng tham gia chiến dịch “Phải Lên Tiếng” (14):

“Một Lê Quốc Quân vừa bị bắt như anh Điếu Cày đang bị giam trong Hỏa Lò, Hà Nội. 15 thanh niên Công giáo vừa bị xử án chỉ trong vòng 2 ngày nhưng tổng cộng với số năm bị giam giữ, bị cho vào ngục tù lên đến gần 100 năm… Đầu tiên cả tôi lẫn bạn đều đồng ý cho rằng điều chúng ta cần phải làm trong mọi lúc, mọi nơi là: phải lên tiếng”.”

Ông Trịnh Hội lên sóng trong chương trình “Hát cho Nhân quyền” của đài SBTN

Ông Trịnh Hội lên sóng trong chương trình “Hát cho Nhân quyền” của đài SBTN

Ngày 12 tháng 5 năm 2013, ông Trịnh Hội lên sóng trong chuỗi chương trình “Hát cho Nhân quyền” của đài SBTN. Trong chuỗi chương trình, họ sử dụng hình ảnh của ông Thái Văn Dung và 13 người bạn để kêu gọi gây quỹ (15). Ngay sau ngày đầu phát sóng, chương trình quyên được tổng cộng $51.000. Theo báo cáo mà HRVN PAC gửi cho Ủy ban Bầu cử Liên bang (FEC), từ năm 2012 đến nay, họ đã thu được tổng cộng $336.000 (16). Tuy nhiên, cũng theo báo cáo này, số tiền dùng để hỗ trợ “các nhà tranh đấu nhân quyền ở Việt Nam” chỉ chiếm 16% tổng số tiền thu được. Lượng tiền đến tay các tù nhân chính trị – những người mà hình ảnh được sử dụng để kêu gọi quyên góp – chiếm 5%. Trong đó, ông Thái Văn Dung và 13 người bạn nhận được $250 mỗi người, tức tổng cộng $3.750. Trong khi đó, khoản tiền dùng để chi trả cho đài SBTN chiếm $72.300, khoản chi cho Trung tâm Asia là $55.400. Tổng chi phí để các nhân viên đài SBTN đi họp ở Australia và Mỹ là $19.100. Trong các khoản chi, có cả $5.000 được dùng để đóng góp cho VOICE, không rõ mục đích sử dụng.

Hiện nay, website của HRVN PAC đã bị chủ nhân xóa bỏ. Toàn bộ số video liên quan đến HRVN PAC của đài SBTN cũng đã bị xóa.

 

Chú thích:

(1) http://dh6-vi.lenduong.net/home

(2) http://viettan.org/Thanh-Phan-Lanh-%C4%90ao,31.html

(3) https://youtu.be/mhLDWQ0kI3c?t=5m50s

(4) http://dh6-en.lenduong.net/dh6-supporters

(5) http://dh6-vi.lenduong.net/program

(6) http://dh6-vi.lenduong.net/blog/buoivanngheduoctrinhchieutructieptrendhaitruyenhinhsbtn

(7) https://youtu.be/mhLDWQ0kI3c

(8) http://dh6-vi.lenduong.net/blog/anninhcongsanvietnamtheodoivadhedoadhaihoi6

(9) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-try-tampr-6th-inter-yout-conf-08082011080500.html

(10) https://thanhnienconggiao.blogspot.com/2011/08/cong-bat-anh-thai-van-dung.html

(11) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/harsh-sentn-for-christ-01092013071537.html

(12) https://danlambaovn.blogspot.com/2011/08/toi-can-co-mot-cau-tra-loi.html

(13) http://danlambaovn.blogspot.com/2011/08/thong-bao-cua-mang-luoi-tuoi-tre-vn-len.html

(14) https://kietchay.wordpress.com/2013/01/18/tan-man-dau-nam-trinh-hoi/

(15) https://youtu.be/KrLn9Fy7Dcs

(16) http://www.vanews.org/2016/03/thong-bao-so-6-bach-hoa-ve-viec-truc-ho.html

 


 

V. Quyên tiền để hỗ trợ các nạn nhân của bão Haiyan

Từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 11 năm 2013, bão Haiyan quét qua Philippines, khiến 6.300 người chết riêng ở nước này (1). Ngày 9 tháng 11, một ngày sau khi cơn bão đổ bộ vào Philippines, ông Trịnh Hội đăng lên Facebook cá nhân của mình lời kêu gọi quyên tiền để hỗ trợ các nạn nhân của cơn bão. Từ ngày 9 đến ngày 19 tháng 11, ông cập nhật trên Facebook mỗi ngày một lần về số tiền mà các cá nhân và hội đoàn đóng góp cho VOICE.

Ngày 9 tháng 11, ông viết:

“Đến tất cả những người bạn của tôi, xa hay gần, tị nạn hay không, đây là thời điểm chúng ta phải góp phần và giúp Philippines. Hơn 1,000 người chết chỉ riêng ở Tacloban và Samar… Mình sẽ tổng hợp lại tất cả tiền thu trong 2 ngày tới để giúp đỡ đất nước đã từng giúp đỡ mình. Cám ơn từ Manila.”

Ngày 10 tháng 11, ông viết:

“Hơn 10,000 chết tại Tacloban. Chúng ta phải thực hiện phần mình. Hãy cố gắng gọi tất cả bạn bè và người ủng hộ trong tuần này… Sydney, Melbourne, Orange County, San Jose, Atlanta, Houston, Florida, Boston, North Carolina, Virginia, Edmonton và Vancouver.”

Trong bài đăng trên Facebook vào ngày 19 tháng 11, ông Hội khẳng định rằng chỉ trong 10 ngày, VOICE đã quyên được $210.000 tiền ủng hộ (2). Trong cùng thời gian đó, tờ Người Việt ở Little Saigon chỉ quyên được $20.000, và tổng số tiền mà hai đài truyền hình SBTN và Saigon Entertainment TV quyên được là $268.000. Những buổi phát thức ăn, nước uống của các thành viên VOICE tại Philippines được báo giới nhiều nơi đưa tin (3).

So với các hoạt động trước, chiến dịch từ thiện năm 2013 của ông Trịnh Hội đã diễn ra thuận lợi một cách bất thường. May mắn này của ông Hội có lẽ đã đến từ ba thành viên mới gia nhập VOICE: Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn.

 

Chú thích:

(1)  https://web.archive.org/web/20141006091212/http://www.ndrrmc.gov.ph/attachments/article/1177/Update%20Effects%20TY%20YOLANDA%2017%20April%202014.pdf

(2) http://danlambaovn.blogspot.com/2013/11/voice-quyen-uoc-hon-200000-cho-nan-nhan.html

(3) http://saigonecho.com/index.php/cd-viet/xay-dung-cd-viet/8659-hoi-ty-nan-palawan-hoi-ngo-keu-goi-giup-nan-nhan-haiyan

 


 

VI. Sự gia nhập của Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn

Năm 2013, VOICE có một sự bổ xung nhân sự mang tính bước ngoặt. Họ nhận vào ba nhân viên, là Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn. Trước khi tham gia VOICE, cả ba đều là người trong nước, có uy tín trong các phong trào chính trị và dân sự, và được cho là đại diện cho thế hệ trẻ của các phong trào này. Việc Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn gia nhập VOICE là cột mốc đánh dấu một bước ngoặt lớn cho VOICE, cũng như cho sự nghiệp cá nhân của ba người họ.

 

1  Phạm Đoan Trang

 

a. Những ngày đầu sự nghiệp

Phạm Đoan Trang sinh năm 1978 tại Hà Nội. Năm 2001, bà tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Hà Nội, ngành Kinh tế. Sau khi ra trường, bà làm công việc của một phóng viên.

Năm 2006, bà bắt đầu viết blog. Vào thời điểm hiện tại, các bài viết của bà vẫn được lưu trữ ở địa chỉ phamdoantrang.com. Năm 2009, khi tên bà lần đầu xuất hiện trong một sự vụ liên quan đến các phong trào chính trị và dân sự Việt Nam, bà nổi tiếng trên Internet với tư cách một người viết blog hơn là một nhà báo.

Phạm Đoan Trang

Phạm Đoan Trang

Các bài viết của Đoan Trang trong giai đoạn này được nhiều người đón đọc vì ba lí do. Thứ nhất, trong bài, bà giản lược hóa và đời thường hóa tất cả các vấn đề chính trị vốn phức tạp, căng thẳng và đôi khi nguy hiểm; rồi trình bày chúng bằng một giọng viết bình dân, để chúng trông có vẻ dễ hiểu và dễ tiếp cận hơn trong mắt số đông độc giả. Thứ hai, trong bài viết của bà, độc giả có thể bắt gặp nhiều đoạn kể chuyện đời tư, và tâm sự thân mật, gần gũi của người trong cuộc, là một yếu tố được công chúng Việt Nam yêu thích. Thứ ba, một mặt, các bài viết của bà cởi mở về mặt chính trị hơn báo chí chính thống, mặt khác, nó lại cung cấp cho độc giả nhiều thông tin có giá trị hơn đa số các blog phi chính thống ở Việt Nam.

 

b. Bị tạm giam vì tham gian in áo phông phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên

Ngày 28 tháng 8 năm 2009, Đoan Trang bất ngờ bị bắt tạm giam để điều tra, vì có cáo buộc rằng bà “vi phạm an ninh quốc gia” (1). Vào thời điểm đó, bà đang làm phóng viên cho chuyên trang Tuần Việt Nam của tờ báo điện tử Vietnamnet. Bà đã có một số bài viết về vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc, đăng trên trang Tuần Việt Nam. Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn BBC, Tổng Biên tập Nguyễn Anh Tuấn của tờ Vietnamnet khẳng định rằng các bài viết của bà Trang trên Tuần Việt Nam “là bình thường”, và không liên quan đến lí do bà bị bắt. Trước đó, ông Bùi Thanh Hiếu, chủ blog Người Buôn Gió cũng đã bị tạm giam để điều tra. Ngày 2 tháng 9, đến lượt bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, chủ blog Mẹ Nấm, bị bắt. Cả ba người bị bắt đều từng có nhiều bài viết đả kích các chính sách của chính quyền Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc, nhất là trong vụ khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên và trong các tranh chấp trên biển Đông.

Ông Bùi Thanh Hiếu bị tạm giam để thẩm vấn mười ngày, và được thả về vào ngày 5 tháng 9. Bà Trang được thả vào ngày 6 tháng 9. Ngày 12 tháng 9, đến lượt bà Quỳnh được thả về.

Ngày 14 tháng 9, bà Trang đăng lên blog của mình một bài viết cảm ơn những người ủng hộ, có đoạn sau:

“Về nguyên nhân của việc em bị bắt, vào thời điểm này (cho đến khi nào chưa rõ), em không thể nói được vì đã nhận yêu cầu như vậy. Em chỉ có thể khẳng định (như đã khẳng định trước cơ quan điều tra) là em không làm chính trị, không tham gia và không đại diện cho bất kỳ đảng phái, tổ chức nào. Em mong mọi người hiểu cho hoàn cảnh em lúc này và không hỏi gì về vấn đề mà em không thể nói”.

Theo thông tin mà báo chí chính thống cung cấp vào năm 2016 (2), thì vào năm 2009, bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị tạm giam do tham gia tổ chức “Người Việt Yêu nước”, được tổ chức này giao phụ trách mảng tài chính, và dùng tiền của đảng Việt Tân cung cấp cho tổ chức này để in áo thun phản đối dự án khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên. Sau này, khi trao đổi trực tiếp với chúng tôi, cả bà Quỳnh lẫn bà Trang đều khẳng định rằng trong vụ việc đó, họ “đã bị lừa” về nguồn tiền để in áo.

Bùi Thanh Hiếu

Bùi Thanh Hiếu

 

c. Chuyển đến báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 3 năm 2010, bà Trang bỏ mục “Phát ngôn & Hành động Ấn tượng” của Tuần Việt Nam để chuyển sang làm cho tờ Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh. Tâm sự trên blog của mình, bà cho biết lí do như sau (3):

“Tôi nghĩ rằng, một nhà báo, một phóng viên thì nên đi viết hơn là chỉ ngồi tổng hợp các ý kiến rồi bình luận – việc đó không quá khó khăn”.

“Với cá nhân tôi, lựa chọn, bình luận, nhận xét những phát ngôn (chủ yếu của quan chức) trên báo chí hàng tuần chỉ là một hệ quả nhỏ của việc đọc báo. Nói cách khác, nó giống một kiểu bàn luận lúc “trà dư tửu hậu”, mà không còn giống nghiệp vụ làm báo. Vì lẽ đó, tôi muốn ngừng làm các bài Phát ngôn & Hành động để tập trung vào những chủ đề khác, những công việc khác có tính báo chí hơn, cụ thể là cho công việc của một phóng viên ở tờ báo vừa nhận tôi – tờ Pháp luật TP HCM”.

Cấp trên trực tiếp của bà Trang vào thời điểm đó là ông Mai Phan Lợi – người đang giữ chức Phó Tổng Thư ký Tòa soạn, Trưởng Ban Đại diện Miền Bắc của báo Pháp luật TP.HCM. Ông Lợi là một trong những người thành lập Trung tâm Nghiên cứu Truyền thông Phát triển – RED Communication vào tháng 1 năm 2011. Ngày 28 tháng 7 năm 2012, ông Lợi tham gia thành lập Trung tâm Truyền thông Giáo dục Cộng đồng (MEC) và giữ quyền giám đốc. Khi viết về ông Lợi vào năm 2016, bà Trang khẳng định rằng “đây là hai NGO (có giấy phép) đầu tiên trong lĩnh vực truyền thông-báo chí ở Việt Nam” (4).

Sau sự thuyên chuyển công tác này, blog Phạm Đoan Trang có sự thay đổi lớn về định hướng nội dung. Ngoài những “entry” có phong cách nhàn đàm quen thuộc, bà Trang bắt đầu đều đăng dần lên blog của mình những bài nghiêm túc mà bà viết cho tờ Pháp luật TP.HCM. Năm 2012, khi ông Trịnh Hữu Long – một cộng sự gắn bó với bà từ khi còn ở trong nước – bắt đầu làm cho tờ Pháp luật TP.HCM, bà cũng đăng cả những bài báo được viết bởi ông Long lên blog nổi tiếng của mình. Từ tháng 6 năm 2012, mỗi khi đăng các bài báo của mình và ông Long lên blog này, bà bắt đầu đính kèm theo một bản dịch tiếng Anh bên dưới. Những bản dịch này chỉ xuất hiện trên blog của bà, chứ không hiện diện trên bất cứ trang mạng nào khác, kể cả báo Pháp luật TP.HCM. Vào thời điểm đó, không có tờ báo chính thống nào của Việt Nam dịch các bài phân tích tình hình chính trị – xã hội trong nước ra ngoại ngữ, và cũng không có trang mạng đối lập nào của Việt Nam cung cấp được những nội dung có giá trị bằng tiếng Anh. Do đó, việc này mang lại cho họ một uy tín và lợi thế ngoại giao lớn khi tiếp xúc với các lực lượng nước ngoài. Nếu không có các biến cố khiến họ gia nhập VOICE vào năm 2013, có thể họ đã hình thành một lực lượng chính trị được xây dựng trên các phóng viên trẻ, viết cho các tờ báo chính thống và có uy tín trên Internet.

 

d. Biên soạn cuốn Thế hệ F

Đầu năm 2011, ở Bắc Phi và Trung Đông xảy ra chuỗi biến cố “Mùa Xuân Arab”. Trong mùa hè năm 2011, bắt đầu từ ngày 5 tháng 6, các tổ chức chính trị đối lập Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình “chống Trung Quốc xâm lược” vào sáng Chủ nhật hằng tuần ở Hà Nội và TP.HCM. Những người biểu tình tuyên bố rằng chuỗi hoạt động của họ nhằm mục đích phản đối “chính sách bá quyền” của Trung Quốc, và “thể hiện lòng yêu nước”. Mỗi cuộc biểu tình thường có vài chục cho đến vài trăm người tham gia. Những người tổ chức đã dùng mạng xã hội Facebook để phát động và quảng bá các cuộc biểu tình, giống như chiến thuật được sử dụng trong “Mùa Xuân Arab”. Sau khi những người biểu tình liên tục họp mặt và trao đổi, họ đã gia tăng nhân số cho các tổ chức đối lập sẵn có, đồng thời hình thành một số tổ chức mới, như các nhóm “No-U”. Bà Trang cũng tham gia chuỗi sự kiện này, và hiện diện liên tục trên truyền thông như một người viết blog nổi tiếng.

Cuối năm 2011, bà Trang cho ra mắt cuốn sách “Thế hệ F”, là một tập hợp các bài viết và comment xoay quanh các cuộc biểu tình trên (5). Vào thời điểm đó, bà không công khai vai trò của mình trong việc biên soạn cuốn sách. Tuy nhiên, từ năm 2015, khi mối quan hệ giữa bà và chính quyền xấu đi, vấn đề này bắt đầu được đề cập đến trong các bài viết công kích bà của hệ thống tuyên giáo.

Lời giới thiệu cuốn sách có đoạn:

“Từ Iran, tới Ukraine, từ Trung Đông tới châu Phi, châu Á, khắp nơi trên thế giới đều có những bằng chứng về sức mạnh của Internet, “quyền lực của thế giới ảo” trong công cuộc nâng cao dân trí, minh bạch hóa, và trên tất cả, dân chủ hóa”.

“Và những biến cố chính trị lớn lao xảy ra đầu năm 2011 tại Ai Cập và Tunisia, phần nào đó là cả Yemen,  Lybia, đã cho thấy rõ ràng hơn bao giờ hết sức mạnh xóa tan bóng tối độc tài của mạng xã hội. “Mùa xuân Arập” sẽ mãi mãi đi vào trong lịch sử như một chiến thắng rực rỡ của “xã hội dân sự” trên mạng, của những blogger, những commentator (mà ở Việt Nam chúng ta, có người dịch là “còm sĩ”); và tóm lại, của những con người yêu mến, khát khao dân chủ, và sử dụng Internet làm công cụ truyền tải khát vọng của họ”.

Trong lời giới thiệu, bà Trang cũng thừa nhận rằng cuốn “Thế hệ F” chỉ là một tập hợp các “entry”, “comment” và “status” chứa đựng “cảm xúc và tâm tư” của những người biểu tình. Tuy nhiên, bất chấp hạn chế đó, bà khẳng định rằng “cuốn sách này thực chất ghi lại một chặng đường lịch sử của Việt Nam”, vì “những gì họ viết là sự thể hiện khát vọng của nhiều thế hệ”. Trong phần sau của lời giới thiệu, bà cho biết “khát vọng” đó là khát vọng dân chủ, tự do.

Theo quan sát của chúng tôi, cuốn sách tập hợp khá nhiều diễn văn, thư từ, bài viết tâm sự và bài bình luận của những người biểu tình. Sách cũng dành hẳn một chương để đăng lại các “status” và “comment” trên Facebook. Tuy nhiên, cuốn sách không bao gồm lời tường thuật khách quan về diễn biến thực tế của các cuộc biểu tình. Trong sách chỉ có một bài tường thuật mang phong cách báo chí, là một bài viết của Thông tấn xã Việt Nam, được đưa vào tuyển tập để “ghi nhận và đưa ra thảo luận” “với tinh thần đa nguyên”, theo giải thích trong lời giới thiệu của cuốn sách. Vì vậy, nếu sớm kết luận rằng cuốn sách “ghi lại một chặng đường lịch sử”, có lẽ sẽ hơi vội vàng.

Các bài viết trong chương ‘Yêu nước’ của cuốn ‘Thế hệ F’

Các bài viết trong chương ‘Yêu nước’ của cuốn ‘Thế hệ F’

 

e. Tham gia Diễn đàn Nhà báo Trẻ

Ngày 15 tháng 1 năm 2012, một nhóm phóng viên và biên tập viên từ nhiều tờ báo cùng nhau thành lập Diễn đàn Nhà báo Trẻ. Theo lời bà Trang viết vào năm 2016, thì đây là “là nhóm Facebook với 12.000 thành viên là các nhà báo có dùng Facebook, có nhiều hoạt động tìm hiểu, trao đổi, chia sẻ về nghiệp vụ báo chí rất sôi nổi, khác hẳn Hội Nhà báo quốc doanh” (4). Vào thời điểm thành lập, diễn đàn này có bảy Admin. Theo nguồn tin riêng của chúng tôi, bà Phạm Đoan Trang không giữ quyền Admin, nhưng tham gia diễn đàn với tư cách cố vấn đặc biệt. Đến tháng 4 năm 2013, sau một cuộc tranh chấp quyền điều hành, diễn đàn chỉ còn lại duy nhất một Admin là ông Mai Phan Lợi.

 

f. Ra mắt cuốn “Và Quyền lực Thứ tư”

Tháng 5 năm 2012, Phạm Đoan Trang cho ra mắt cuốn sách “Và Quyền lực Thứ tư” (6). Đây là một tuyển tập các bài viết của bà Trang trên các báo Pháp luật TP.HCM, Tuần Việt Nam và Nhịp cầu Thế giới. Cuốn sách được in bởi Nhà Xuất bản Giấy vụn – một nhà xuất bản phi chính thống được sáng lập và điều hành từ năm 2002 bởi ông Bùi Chát (tên thật là Bùi Quang Viễn). Các bài viết trong sách không tập trung vào một lĩnh vực cụ thể hoặc thông điệp thống nhất, mà phân tán vào nhiều lĩnh vực khác nhau – bao gồm quyền lực báo chí, quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc, thể chế chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hóa Hà Nội, và những gương mặt danh nhân trong quá khứ.

 

g. Tham gia ban quản trị trang Nhật ký Yêu nước

Nhật ký Yêu nước là một trang Facebook nổi tiếng trong phong trào đối lập Việt Nam. Trang được tạo năm 2009 bởi một người Mỹ gốc Việt. Ban đầu, Nhật ký Yêu nước chỉ đăng lại các tin tức và bình luận chính trị của các trang mạng khác, và kèm theo đó vài lời bình luận của người đăng. Tuy nhiên, cuối tháng 5 năm 2011, ông Nguyễn Văn Dũng, một thành viên ban quản trị trang này, bắt đầu dùng trang để kêu gọi biểu tình chống Trung Quốc. Để tạo tính chính danh cho sự kiện, ông Dũng quyết định dùng ngày 5 tháng 6 năm 2011, kỉ niệm 100 năm ngày ông Hồ Chí Minh “ra đi tìm đường cứu nước”, làm thời điểm biểu tình. Trang Nhật ký Yêu nước trở thành đoàn thể đầu tiên tung ra lời kêu gọi biểu tình trong năm 2011, khởi động cho chuỗi sự kiện diễn ra sau đó.

Sau khi lời kêu gọi được đăng lên, số người theo dõi trang bắt đầu tăng vọt. Thêm vào đó, trang cũng thành công trong việc thu hút một lượng đáng kể thanh thiếu niên quan tâm và tham gia sự kiện. Vào thời điểm đó, học sinh, sinh viên Việt Nam dành hầu hết thời gian online của mình cho mạng xã hội Facebook, thay vì cho blog và các website truyền thống như lớp người sinh trước họ chỉ vài năm. Do Nhật ký Yêu nước thuộc số ít các đoàn thể vừa có nhân sự trẻ trong nước, vừa hoạt động một cách hiệu quả trên Facebook trong năm này, nó thành công hơn các đoàn thể cũ trong việc thu hút và điều động giới trẻ.

Từ sau sự kiện đó, trang Nhật ký Yêu nước tiếp tục tham gia phát động và điều phối các cuộc biểu tình ở Việt Nam.

Ngày 5 tháng 9 năm 2012, ông Nguyễn Vũ Hiệp, một quản trị viên, giới thiệu bà Trang tham gia ban quản trị trang Nhật ký Yêu nước. Sau đó, ông Trịnh Hữu Long cũng tham gia từ tháng 7 năm 2013.

Theo những ảnh chụp màn hình mà chính quyền tung ra hồi tháng 1 năm 2014 (7), có thể thấy trong quá trình tham gia quản trị trang Nhật ký Yêu nước, bà Trang và ông Long đã tìm cách thuyết phục các thành viên khác thay đổi định hướng và phong cách truyền thông của trang. Cụ thể, họ đề nghị ba điều:

_ Cải thiện kỹ thuật viết và cách truyền thông

_ Hạn chế đăng tải thông tin liên quan đến những nhân vật được coi là “làm xấu mặt phong trào”, “hằn học và bế tắc”

_ Cung cấp “những kiến giải mới, những cảm xúc tích cực, những sáng kiến, những giải pháp”

Họ khẳng định rằng những sửa đổi này là cần thiết để xây dựng uy tín của Nhật ký Yêu nước.

18

1920

 

h. Gia nhập VOICE

Sáng ngày 9 tháng 12 năm 2012, tại Nhà hát Lớn, Hà Nội, bà Đoan Trang tham gia một cuộc biểu tình “chống Trung Quốc”. Các nhóm phát động tuyên bố rằng cuộc biểu tình của họ nhằm đáp trả vụ Trung Quốc cắt cáp tàu biển của Việt Nam vào ngày 3 tháng 12, và việc Trung Quốc in mẫu hộ chiếu mới, trên đó có bản đồ khẳng định rằng vùng biển đang tranh chấp với Việt Nam là của Trung Quốc. Theo lời tường thuật của đài BBC Tiếng Việt, “công an tới dẹp đoàn tuần hành”, khiến cuộc biểu tình tan rã chỉ sau khoảng một giờ (8). Bà Trang nằm trong số những người biểu tình bị cảnh sát Việt Nam đưa về tạm giữ tại Trại Phục hồi Nhân phẩm Lộc Hà để lấy lời khai. Trong quá trình lấy lời khai, bà đã ghi âm lại cuộc trao đổi giữa mình với công an, và đăng lên Internet sau đó một ngày (9).

Không lâu sau khi bản ghi âm được tung ra, bà Trang bị báo Pháp luật TP.HCM loại khỏi biên chế của tòa soạn báo.

Động thái này của tòa soạn khiến bà Trang lo ngại rằng mình sắp bị chính quyền bắt. Vào thời điểm đó, VOICE đang tìm học viên cho khóa học “về xã hội dân sự Philippines” sẽ diễn ra vào năm 2013. Khóa này do Asian Bridge Philippines đứng tên tổ chức, VOICE phụ trách tìm người. Họ ưu tiên tìm những học viên trẻ, biết tiếng Anh và có kinh nghiệm hoạt động chính trị – xã hội. Trước năm 2016, VOICE không công khai đăng thông báo tuyển học viên, mà bí mật liên hệ với các tổ chức trong nước để họ cử người đi học. Một trong những người được liên hệ là ông Nguyễn Văn Đài, một cựu tù chính trị ở Hà Nội. Vào thời điểm đó, ông Đài vừa làm quen với Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn và Trịnh Hữu Long qua một group Facebook mang tên Câu lạc bộ Phan Chu Trinh. Theo một cáo buộc của chính quyền vào cuối năm 2013, group này do ông Nguyễn Vũ Hiệp, thành viên Tập hợp Dân chủ Đa nguyên lập ra để thúc đẩy việc “móc nối” các cá nhân và hội đoàn, đồng thời giúp tổ chức của mình tuyên truyền và khai thác thông tin trong quá trình đó. Sau khi được ông Đài cung cấp thông tin về khóa học của VOICE qua sinh hoạt của Câu lạc bộ Phan Chu Trinh, bà Trang đăng ký theo học để có cơ hội tạm lánh ra nước ngoài cho đến khi tình hình lắng xuống. Khi đó, Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn đang cùng làm việc như một ekip gắn bó. Mặt khác, cả hai ông Long và Tuấn đều muốn có cơ hội thực tập trong các NGO chuyên hỗ trợ nông dân trong các vụ khiếu kiện liên quan đến đất đai ở Philippines – điều mà VOICE sẵn sàng cung cấp. Vì vậy, họ quyết định rằng cả ba người sẽ tham gia khóa học của VOICE.

Ngày 12 tháng 1 năm 2013, bà Trang xuất cảnh đi Thái Lan, trước khi từ Thái Lan đi Philippines. Không lâu sau đó, hai ông Long và Tuấn cũng xuất cảnh.

 

2. Trịnh Hữu Long

 

a. Biểu tình “chống Trung Quốc”

Trịnh Hữu Long sinh năm 1986 tại Thanh Hóa. Năm 2008, ông tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội, chuyên ngành Luật Kinh tế. Từ khi ra trường đến năm 2011, ông làm nhân viên tư vấn pháp lí tại VCCorp (2008 – 2010), làm tư vấn pháp lí tại chỗ cho công ty bảo hiểm Bảo Việt (2009 – 2011), làm điều phối viên PR cho công ty tài chính HANDICO (2010 – 2011).

Tháng 1 năm 2014, trong một bài viết tâm sự mang tên “Giọt nước mắt của những người tiên phong”, ông Long cho biết mối quan tâm chính trị đầu tiên của ông đến từ “chuyện Hoàng Sa và một phần Trường Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm” (10). Ông kể:

“Mãi cho đến năm 2008-2009, lần đầu tiên mình thấy vấn đề này được xới lại trên phương tiện chính thống qua một loạt bài báo của nhà báo Đoan Trang, khi đó còn là phóng viên của báo VietNamNet. Loạt bài có tính hiện tượng đó thức tỉnh trở lại ý thức của mình và có lẽ là rất nhiều người khi đó về những hòn đảo đã mất. Và cũng kể từ đó, tuyến đề tài về biển đảo trở lại trên các sạp báo. Cái giá mà nhà báo Đoan Trang phải trả cho việc này là 9 ngày tù, bị đuổi việc, bị đồng nghiệp cô lập, bị công an sách nhiễu liên tục và rơi vào hoản cảnh vật chất thê thảm”.

(Quan điểm của ông Long không trùng khớp với các tuyên bố của tòa soạn Vietnamnet và phía chính quyền. Nhắc lại, vào thời điểm vụ “9 ngày tù” diễn ra, Tổng Biên tập Nguyễn Anh Tuấn của Vietnamnet khẳng định với BBC rằng “các bài viết của Đoan Trang trên Vietnamnet là bình thường”, không liên quan đến lí do cô bị bắt (1). Phía chính quyền giải thích rằng họ tạm giam Đoan Trang 9 ngày để điều tra việc cô cùng hai cây bút khác, là bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và ông Bùi Thanh Hiếu, dùng “tiền của Việt Tân” để in áo phông phản đối dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên. Tuyên bố của Vietnamnet và chính quyền nhìn chung trùng khớp với diễn biến của vụ bắt giữ, và với tuyên bố của những người bị bắt sau vụ việc.)

21

Các cuộc biểu tình “chống Trung Quốc” diễn ra hằng tuần, bắt đầu từ ngày 5 tháng 6 năm 2011, mang đến một bước ngoặt lớn cho sự nghiệp của Trịnh Hữu Long. “Hơn hai ngày” sau khi tham gia cuộc biểu tình đầu tiên, ông đăng lên blog của mình bài viết “Tản mạn về lòng yêu nước”. Trong bài, ông thể hiện sự bức xúc khi bị gọi là “phản động” chỉ vì đi biểu tình. Bài kết thúc bằng câu hỏi:

“Chúng tôi chấp nhận rước lấy những hiểm nguy cho bản thân mình, bỏ một buổi sáng đi bộ đến kiệt sức để xuống đường nói lên tiếng nói yêu nước, chẳng nhẽ để nhận về những lời mỉa mai như vậy hay sao?

Chúng tôi có phán xét lòng yêu nước của ai đâu, sao các bạn lại phán xét chúng tôi?”

Trong bài viết tiếp theo, mang tên “Vì sao tôi đi biểu tình”, ông Long thuật lại diễn biến tâm lí của ông từ khi nhận được lời kêu gọi biểu tình qua tin nhắn. Theo lời kể, ông lập tức muốn tham gia, nhưng sau đó lại cảm thấy sợ hãi. Ông sợ “bị bắt”, bị “dè bỉu” là “phản động”, và bị cơ quan an ninh can thiệp vào cuộc sống cá nhân. Tuy nhiên, sau khi trải qua một quá trình “giằng xé”  nội tâm, Long “cảm thấy nhục nhã”, vì nhận ra trong ông “có hai chữ hèn nhát”. Theo quan điểm của Long, nếu ông “nhiều năm câm lặng trước hiểm họa mất nước vào tay kẻ thù” và “đắn đo suy nghĩ” khi cần “nói lên tiếng nói yêu nước”, ông đang “mặc cả với chính Tổ quốc của mình”. Ông sợ rằng nếu làm những điều trên, ông sẽ bị những người xung quanh và con cái sau này coi là “hèn nhát”.

Cuối bài, ông Long tâm sự:

“Hậu thế sẽ phán xét tôi thế nào đây? Lịch sử nào có ở đâu xa, việc chúng ta làm hôm nay, ngày mai nó đã thành lịch sử. Mỗi việc làm của chúng ta đều sẽ được lịch sử ghi lại và phán xét.

Tôi sợ tất cả những điều đó hơn là cái con ngáo ộp đang đe dọa tôi. Trong vô vàn những giải pháp để thoát khỏi sự hèn nhát, tôi lựa chọn giải pháp đi biểu tình”.

Tháng 7 năm 2011, ông Long viết bài “Khi lịch sử đã chạm tên từng người”. Long dùng bài này để bình phẩm về cuộc phỏng vấn giáo sư Nguyễn Thế Sự, cựu Trưởng khoa Tiếng Trung của Đại học Hà Nội, được đăng trên một tờ báo Trung Quốc. Theo tờ Tề Lỗ Vãn báo, khi trả lời phỏng vấn, ông Sự đã nói “Thanh niên biểu tình chống Trung Quốc là do bị kích động bởi thế lực phản động hải ngoại”. Long gọi đây là “những lời lẽ vuốt ve quân xâm lược”, và cho rằng nó đã khiến những người biểu tình “tím tái vì nhục nhã”. Sau khi thuật lại việc ông Sự vội vàng phủ nhận cuộc phỏng vấn, và tuyên bố ông “bị lợi dụng” bởi báo Trung Quốc, Long cho biết vụ việc này khiến ông “phải suy nghĩ về những cái chạm tay của lịch sử đến họ tên của từng người”. Ông bình phẩm như sau:

“Một Giáo sư, nguyên Trưởng khoa tiếng Trung của một Đại học danh tiếng bậc nhất như ĐH Hà Nội, lúc về hưu tưởng chừng như đã trọn vẹn một đời công danh, tiếng thơm xa gần, con cháu đời đời hưởng phúc. Thế rồi bỗng một ngày nọ, không biết vì lỡ lời hay cố ý buông những lời lẽ bán nước, hoặc cũng có thể bị gã phóng viên họ Tàu tên Khựa kia phỉnh lừa, mà đã vĩnh viễn đóng đinh tên tuổi của mình vào một trong những trang nhơ nhuốc nhất của lịch sử, bất kể ông có thanh minh gì đi chăng nữa”.

Cuối bài, ông Long mượn chuyện ông Sự để cảnh cáo cơ quan an ninh Việt Nam:

“Nếu lực lượng an ninh đã tổ chức ghi hình đoàn biểu tình để phục vụ cho công tác nghiệp vụ, thì những nhiếp ảnh gia nhân dân cũng đã ghi lại đầy đủ hình ảnh của họ, chờ lịch sử phán xét.

Bài học của ông Nguyễn Thế Sự hãy vẫn còn nóng hổi để những ai đang có ý định làm trái với lợi ích của dân tộc phải cảnh tỉnh, trước hết là vì vết nhơ ngàn năm của chính bản thân họ.

Nên nhớ rằng, 726 năm đã trôi qua, cả dân tộc này vẫn réo tên Trần Ích Tắc lên mà chửi rủa.

Và họ sẽ còn chửi rủa trong hàng triệu năm nữa”.

Theo ghi chú trên blog Nguyễn Xuân Diện, cho đến thời điểm viết bài này, ông Long đã tham gia ba cuộc biểu tình.

Ba bài viết nêu trên đều được đăng trên trang Facebook và blog cá nhân của ông Long, trước khi được lưu lại trong cuốn “Thế hệ F” của bà Đoan Trang và một số blog khác. Hiện nay, link của các bài gốc đều không còn truy cập được. Trên trang blog.trinhhuulong.com, mọi bài đăng trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 9 năm 2011, nếu có, đều không còn được lưu. Trên blog này, có 25 bài đăng trước thời điểm đó mà hiện nay vẫn được lưu. Trong số này, có một lá thư gửi ba người cháu của ông ở quê, một bài viết viếng nhà thơ Tế Hanh, và một bài thơ tự làm nhân ngày Trung Thu, cả ba đều không chứa nội dung liên quan đến chính trị. Cả 22 bài đăng còn lại đều là thơ Việt Nam, không liên quan đến chính trị, do ông sưu tầm từ các tác giả khác. Trong đó, có 16 bài được đăng trong ngày 20 tháng 1 năm 2009, và 6 bài được đăng trong ngày 28 tháng 1 năm 2009, thời điểm đăng mỗi bài trong số này chỉ cách nhau vài phút.

Trong khoảng thời gian “bị xóa” này, ông ngừng làm việc cho Bảo Việt và HANDICO, có thể do tác động từ phía chính quyền.

 

b. Đến với nghề báo

Ngày 7 tháng 12 năm 2011, ông có “bài đầu tiên đăng trên một tờ báo” (14). Đó là một bài viết cho Nhịp cầu Thế giới, một tạp chí của cộng đồng người Việt ở Ba Lan. Gần một tuần sau, ngày 13 tháng 12, ông có bài đăng trên tờ Tia Sáng – tạp chí của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Cần lưu ý rằng trước đó, tờ Tia Sáng bản điện tử từng bị đình bản vào ngày 27 tháng 10 năm 2009. Quyết định đình bản này được cho là liên quan đến vụ “tự giải thể” Viện Nghiên cứu Phát triển IDS – một viện có ông Chu Hảo, cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ trong ban lãnh đạo – vào ngày 14 tháng 9 năm 2009. Tờ Tia Sáng bản điện tử trở lại hoạt động vào tháng 1 năm 2011. Tháng 6 cùng năm, ông Nguyễn Quang A – cựu Viện trưởng Viện IDS – khai sinh biểu tượng “No-U” (nói Không với đường hình chữ U của Trung Quốc trên biển Đông) (15). Đến mùa thu, “No-U” được chọn làm biểu tượng và tên gọi cho một mạng lưới liên kết những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc. Đến tháng 8, ông Quang A và ông Chu Hảo trở thành người diện cho phong trào biểu tình trong các cuộc đối thoại chính thức với chính quyền (16). Trong buổi đối thoại này, một trong những người đi cùng ông A và ông Hảo là ông Nguyễn Xuân Diện. Ông Diện có bằng Tiến sĩ Hán – Nôm, và là người thường xuyên đưa tin về diễn biến của các cuộc biểu tình trên blog. Ngày 22 tháng 7, ông Long gửi một bài viết của mình cho ông Diện, dù các bài trước đó của ông Long đều được đăng trên trang Facebook và blog cá nhân (17). Có thể từ mối quen biết này, ông Long đã dần mở rộng quan hệ với các cựu thành viên của Viện IDS, trước khi được giới thiệu vào làm cho tờ Tia Sáng vào cuối năm đó.

Trịnh Hữu Long mặc áo phông có biểu tượng No-U trong cuộc biểu tình ngày 16 tháng 5 năm 2014 ở Philippines

Trịnh Hữu Long mặc áo phông có biểu tượng No-U trong cuộc biểu tình ngày 16 tháng 5 năm 2014 ở Philippines

Trong một thư tòa soạn của trang Luật khoa Tạp chí, mà ông viết hồi cuối năm 2016 (18), ông Long cho biết:

“Tham gia phong trào biểu tình năm đó, dù hứng chịu nhiều chỉ trích và áp lực, tôi lại gặp được một người mà sau này đã dẫn dắt tôi vào nghề báo và trở thành đồng sáng lập viên của Luật Khoa tạp chí: nhà báo Phạm Đoan Trang”.

Các bài nghiêm túc mà ông Long viết cho tờ Tia Sáng thường được ông đăng lại trên blog của mình ngay trong ngày, theo cùng một công thức xây dựng hình ảnh mà bà Trang bắt đầu áp dụng từ khi chuyển sang làm cho báo Pháp luật TP.HCM. Từ đầu năm 2012, blog Phạm Đoan Trang cũng bắt đầu đăng lại những bài mà ông Long viết cho Tia Sáng và các tờ báo khác.

Ngày 20 tháng 12 năm 2011, Tia Sáng đăng bài “Bức tranh đa sắc của truyền thông Việt Nam trong năm 2011” (19), ký tên Trịnh Hữu Long. Đây là bài tổng kết các xu hướng của truyền thông Việt Nam trong năm.

Ngày 16 tháng 2 năm 2012, Tia Sáng đăng một bài phỏng vấn ông Nguyễn Quang A, mang tên “Tích tụ đất đai – không còn là lúc để lo ngại” (20). Mối quan tâm mà ông Long dành cho vấn đề quyền tư hữu đất, mà sau này ông nhiều lần thể hiện, có lẽ đã khởi phát từ cột mốc này.

Ngày 22 tháng 2 năm 2012, Tia Sáng đăng bài “Vấn đề lập pháp nhìn từ pháp luật đất đai” của ông Trịnh Hữu Long (21). Hầu hết các ý kiến trong bài được đưa ra từ phát biểu của ông Nguyễn Sĩ Dũng – Phó Chủ tịch Văn phòng Quốc hội vào thời điểm đó. Trong bài, ông Long chủ yếu trích dẫn các văn bản luật để minh họa những ý kiến mà ông Dũng đưa ra. Bài viết không cho biết ông Dũng phát biểu trong hoàn cảnh nào, và hiện nay, đây là văn bản duy nhất trên Internet có chứa những phát biểu này của ông Dũng. Vào thời điểm hiện tại, tên tác giả Trịnh Hữu Long đã bị gỡ khỏi bài gốc trên trang Tia Sáng, nhưng vẫn còn lưu trên các bài đăng lại trên Internet.

Ngày 22 tháng 4 năm 2012, ông Long có bài đầu tiên trên tờ Pháp luật TP.HCM. Bài xoay quanh vấn đề quản lí Internet. Trong bài, ông Long thực hiện phỏng vấn, còn bà Phạm Đoan Trang viết lời bình (22).

 

c. Những khẩu hiệu mới

Ngày 24 tháng 4 năm 2012, chính quyền huy động “hàng ngàn công an” (23) để “cưỡng chế, thu hồi quyền sử dụng đất” của các hộ nông dân ở Văn Giang, Hưng Yên. Do bất đồng về số tiền đền bù từ nhiều năm, phía nông dân từ chối bàn giao đất, và liên kết với nhau để chống trả bằng vũ lực. Ngày 12 tháng 5 năm 2012, báo Nhịp cầu Thế giới đăng bài “Nhà nước pháp quyền qua lăng kính Văn Giang” của Trịnh Hữu Long. Mối quan tâm chính của ông Long trong toàn bộ bài viết có thể được thể hiện qua những đoạn trích sau:

“Hiến pháp – đạo luật gốc – là căn cứ cao nhất để xem xét tính chất pháp lý của quyết định này.

Ở Việt Nam, đại đa số người dân chưa có thói quen viện dẫn đến Hiến pháp để xác định tính chất pháp lý của một vấn đề. Với tư cách là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, Hiến pháp chi phối mọi nội dung và thể thức của toàn bộ hệ thống pháp luật. Người dân vẫn chỉ quan tâm đến tính hợp pháp (hiểu theo nghĩa là tính phù hợp với văn bản luật), chứ chưa có nhiều khái niệm về tính hợp hiến của vấn đề”.

“Rõ ràng, nếu chúng ta có một cơ chế bảo hiến hiệu quả, UBND tỉnh Hưng Yên sẽ gặp rắc rối lớn với Tòa án Hiến pháp khi cưỡng chế thu hồi đất của nông dân Văn Giang với mức giá bị cho là rẻ mạt và giao cho chủ đầu tư kinh doanh”.

“Việc thu hồi đất ở Văn Giang nêu trên chỉ là dấu hiệu vi hiến của một hành vi, nhưng sâu xa hơn là dấu hiệu vi hiến của một đạo luật quan trọng”.

Kể từ cột mốc này, “Hiến pháp” trở thành đối tượng quen thuộc mà ông Long, cùng các cộng sự của ông trong Luật khoa Tạp chí về sau, thường xuyên viện dẫn.

Các biến cố liên tiếp xoay quanh vấn đề tranh chấp quyền sử dụng đất ở Việt Nam trong năm 2012 đã tác động nhiều, làm ông Long thay đổi quan điểm chính trị.  Ngày 27 tháng 4 năm 2013, không lâu sau khi xuất cảnh, ông Long đăng bài “Nhân quyền và Chủ quyền, cái nào cao hơn” lên blog cá nhân (24). Trong bài, ông đặt câu hỏi:

“Thông điệp của người phụ nữ được cho là ở An Giang này đặt ra cho chúng ta một trong những câu hỏi căn bản nhất của loài người: chủ quyền cao hơn hay nhân quyền cao hơn? Cụ thể trong trường hợp này, khi buộc phải lựa chọn giữa việc đất nước bị xâm lược nhưng giữ được tài sản, với việc độc lập nhưng tài sản bị chính đồng bào cướp mất, chúng ta sẽ chọn giải pháp nào?

Xa hơn nữa, giả sử bị xâm lược nhưng các quyền con người cơ bản (quyền tư hữu tài sản, quyền tự do ngôn luận, lập hội, tôn giáo, biểu tình,…) được đảm bảo, so với việc độc lập nhưng người dân bị chính quyền tước đoạt hết các quyền con người, cái nào tốt hơn?”

Sau khi lấy hai chính quyền ở miền Nam và miền Bắc trong chiến tranh Việt Nam làm ví dụ, ông Long kết luận:

“Sớm hay muộn, Việt Nam cũng phải lựa chọn một bến đỗ bên cạnh một cường quốc để tìm kiếm sự yên ổn và thịnh vượng”.

Cuối bài, ông Long nêu một trường hợp cụ thể để minh họa:

“Puerto Rico có thể là một tham chiếu tốt để tìm hiểu vấn đề này. Họ vốn là thuộc địa và giờ đây gần như là bang thứ 51 của Mỹ. Người đứng đầu nhà nước Puerto Rico hiện nay là Tổng thống Mỹ Barack Obama. Ở vùng lãnh thổ này luôn tồn tại 3 xu hướng chính trị: hoặc là giữ nguyên tình trạng “nửa độc lập” hiện nay, hoặc là trở thành một quốc gia độc lập, hoặc là trở thành một tiểu bang chính thức của Hoa Kỳ. Ba cuộc trưng cầu dân ý từ năm 1967 đến nay đều đưa đến sự thắng thế của xu hướng “nửa độc lập”. Cuộc trưng cầu dân ý thứ tư năm 2012 tiếp tục bác bỏ xu hướng “độc lập”, mà lựa chọn xu hướng sáp nhập vào Hoa Kỳ”.

Ngoài những tranh luận về quyền tư hữu đất khởi đầu từ bài phỏng vấn ông Quang A và biến cố Văn Giang, mối quan tâm mà ông Long dành cho vấn đề nhân quyền có thể còn đến từ việc tiếp thu một luồng ảnh hưởng song song khác. Ngày 4 tháng 6 năm 2012, ông Lê Thăng Long – người bị bắt cùng Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Công Định vào năm 2009 – ra tù sớm hai năm so với bản án được tuyên. Chưa đầy một tuần sau, ngày 10 tháng 6, ông Lê Thăng Long bất ngờ tuyên bố thay mặt ba người cộng sự cũ để “phát động phong trào Con Đường Việt Nam” (25). Phong trào này được đặt tên theo cuốn sách mà bốn ông đang phân công nhau viết dở vào năm 2009, trước khi bị bắt. Theo lời phát động của ông, phong trào “xác định mục tiêu tối thượng phải hoàn thành là quyền con người phải được bảo vệ trên hết và bình đẳng ở đất nước chúng ta”. Trước thời điểm này, các phong trào và hội đoàn chính trị, dân sự ở Việt Nam thường chỉ lấy các khẩu hiệu xoay quanh vấn đề dân chủ, chống Trung Quốc, chống tham nhũng, chống Cộng, chống chính sách tôn giáo, hoặc khôi phục chế độ Việt Nam Cộng hòa làm ngọn cờ để tập hợp lực lượng. Vấn đề nhân quyền cũng được nhắc đến, nhưng không được dùng để tập hợp lực lượng, mà chỉ dùng để giao thiệp với chính giới phương Tây. Đây là lần đầu tiên có một phong trào chính trị Việt Nam chọn “mục tiêu tối thượng” là “quyền con người”. Lời phát động của Lê Thăng Long Long gây ra sự hoài nghi lớn trong dư luận, vì nó không ăn khớp với những dự định mà ông và ba cộng sự cũ đã bàn tính, và ông đã nhân danh cả nhóm mà không hề hỏi ý các bạn mình. Tuy nhiên, ông Long cũng nhận được sự ủng hộ của một số hội nhóm. Vào thời điểm đó, “quyền con người” là một ngọn cờ hữu dụng. Một mặt, nó cung cấp tính chính đáng cho mọi đòi hỏi của phong trào – từ quyền tư hữu đất cho đến quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do in ấn, tự do biểu tình… Mặt khác, “quyền con người” là một phần quan trọng trong gói kĩ thuật làm cách mạng đường phố của phương Tây, mà nhiều hội nhóm vẫn đang cố nhập khẩu về sau biến cố “Mùa Xuân Arab”. Sau cùng, vào thời điểm Việt Nam đang cố gia nhập TPP và phải đối mặt với các yêu sách về nhân quyền từ nhiều nước thành viên cũ, các nhà hoạt động đối lập sẽ tìm được sự bảo hộ họ muốn nếu dứt khoát chọn một khẩu hiệu vừa chiều ý phương Tây, vừa hoàn toàn ăn khớp với luật chơi của TPP. Họ không bỏ lỡ cơ hội này, và nhanh chóng nhập khẩu “quyền con người” làm ý thức hệ mới.

Ngày 25 tháng 12 năm 2012, trên trang boxitvn.blogspot.com, nhóm cựu lãnh đạo Viện IDS đăng một văn bản mang tên “Lời kêu gọi thực thi quyền con người theo Hiến pháp tại Việt Nam” (26). Trong “gần 100 người” đầu tiên ký tên vào văn bản này, có đầy đủ các ông Nguyễn Quang A, Chu Hảo, Nguyên Ngọc, và bà Nguyễn Thị Bình – cựu Phó Chủ tịch nước. Tròn hai tháng sau, ngày 26 tháng 2 năm 2013, tại khóa họp thứ 22 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam tuyên bố rằng Việt Nam sẽ ứng cử vào hội đồng này. Toàn bộ chuỗi sự kiện tưởng như tình cờ nêu trên đã mở đường cho nhận thức chính trị mới mà Trịnh Hữu Long thể hiện trong bài viết hồi tháng 4 năm 2013, và cho các hoạt động sôi động mà ông trải qua cùng VOICE trong một năm sau đó.

 

3. Nguyễn Anh Tuấn

 

a. Vụ “tự thú” nổi tiếng

Ông Nguyễn Anh Tuấn, sinh năm 1990 tại Đà Nẵng, trở thành một gương mặt nổi tiếng trong các phong trào chính trị và dân sự ở Việt Nam sau vụ ông viết “đơn tự thú”, xin đi tù vì đã vi phạm Điều 88 Bộ luật Hình sự khi tàng trữ các tài liệu được viết bởi tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.

Ngày 4 tháng 4 năm 2011, ông Cù Huy Hà Vũ, một gương mặt đối lập nổi tiếng, bị kết án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế do vi phạm Điều 88 Bộ luật Hình sự, tội “Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (27). Là con trai ông Huy Cận, một nhà thơ nổi tiếng từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hóa miền Bắc Việt Nam, ông Vũ được nhiều người biết đến hơn sau khi ông có những vụ kiện được cho là “khuấy động dư luận”. Cụ thể, năm 2005, ông kiện Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế về quyết định cấp phép đầu tư để xây một khách sạn trên đồi Vọng Cảnh – nơi được ông cho là “di tích văn hóa bất khả xâm phạm” vì đã được chính quyền xếp vào danh sách các danh thắng và di tích cần được bảo vệ từ năm 1976 (28). Năm 2006, ông kiện album “Chat với Mozart” của ca sỹ Mỹ Linh và nhạc sĩ Dương Thụ, vì cho rằng tên gọi của album này đã “vi phạm quyền nhân thân” của ông Mozart. Trả lời phỏng vấn báo Công an Nhân dân (29), ông giải thích lí do kiện của mình như sau:

“Nhạc có hai loại: có lời và không lời. Nhạc người ta đang không lời, mình cải biên thành có lời là không được. Ấy là chưa nói tới việc nhạc không lời là đỉnh cao của âm nhạc. Người ta đang ở cao, mình kéo xuống bình dân là phá hoại văn hóa”.

Tuy nhiên, ông Cù Huy Hà Vũ thua kiện, vì các tác phẩm của ông Mozart đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền, và việc ghép lời vào nhạc của ông Dương Thụ được xem là thuộc diện “sáng tạo tác phẩm phái sinh”.

Cũng trong năm 2006, ông gửi đơn tới Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quốc hội và Thủ tướng để “tự ứng cử chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin” (30). Đây là sự kiện chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam cũng như trên thế giới, vì các chức vụ trong bộ máy hành pháp thường do Thủ tướng chỉ định để Quốc hội phê duyệt, chứ không do bầu cử. Tuy nhiên, ông Vũ khẳng định với báo giới rằng “trước sau tôi sẽ là Bộ trưởng trong tương lai” (29). Ông giải thích:

“Tôi là người được đào tạo bài bản ở Tây, luôn luôn nghĩ tới tính hiệu quả. Không bao giờ nghĩ “không được” mà tôi lại ra ứng cử. Xét về nhiều phương diện, tôi thấy việc tôi ra ứng cử lúc ấy là chín muồi.

Bạn nên nhớ, Cù Huy Hà Vũ có bằng Thạc sĩ văn chương của Pháp, bằng TS Luật ở đại học Sorbonne. Bằng này cho thấy khả năng xây dựng pháp luật, và thẻ Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam để thấy Hà Vũ có chân trong một ngành nghệ thuật.

Còn về truyền thống gia đình, có thể khẳng định luôn là, tới thời điểm ấy, ít người “cạnh tranh” được. Nhiều người biết mình là con cụ Cận, nhưng không phải ai cũng biết mình còn là cháu ông Diệu (ám chỉ Xuân Diệu, một nhà thơ nổi tiếng khác, là anh trai của mẹ ông Vũ)”.

Ông Cù Huy Hà Vũ chụp ảnh với cựu Chủ tích nước Lê Đức Anh

Ông Cù Huy Hà Vũ chụp ảnh với cựu Chủ tích nước Lê Đức Anh

Ngày 11 tháng 6 năm 2009, ông Vũ đâm đơn kiện ông Nguyễn Tấn Dũng, người đang giữ chức Thủ tướng Việt Nam vào thời điểm đó (31). Theo ông Vũ, khi kí quyết định cho phép các công ty Trung Quốc khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên mà không thông qua Quốc hội, ông Vũ đã vi phạm luật bảo vệ môi trường, luật bảo vệ di sản văn hóa, luật quốc phòng, và luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội bác đơn kiện của ông, với lí do “theo quy định Tòa chỉ có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện hành chính liên quan cấp bộ trở xuống”.

Trong một cuộc phỏng vấn với VOA, ông Vũ khẳng định rằng các công ty Trung Quốc ở Tây Nguyên chỉ “trá hình khai thác bauxite”, và ông Dũng “đang tiếp tay cho Trung Quốc xâm lược cả “mềm” lẫn “cứng” lãnh thổ của Việt Nam” (32). Cũng trong cuộc phỏng vấn này, ông Vũ khẳng định: “Để tránh bị triệt tiêu thậm chí một cách thê thảm, ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác là phải quay về với dân tộc, quay về với nhân dân bằng cách tự phá bỏ quy chế độc tài của bản thân và thực hiện một nền chính trị Đa đảng”.

Ngày 26 tháng 7 năm 2010, ông Vũ thực hiện một cuộc phỏng vấn với VOA, có nhan đề “Đồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại” – trích lời ông trong cuộc phỏng vấn này (33).

Ngày 5 tháng 11 năm 2010, các tờ báo chính thống đưa tin rằng khi kiểm tra khách sạn Mạch Lâm ở thành phố Hồ Chí Minh, vào lúc rạng sáng cùng ngày, công an đã phát hiện ông Cù Huy Hà Vũ đang ở cùng bà Hồ Lê Như Quỳnh, là một luật sư khác (34). Hai người “không có giấy đăng ký tạm trú, không có giấy đăng ký kết hôn” (35). Công an cho biết do phát hiện “hai bao cao su đã qua sử dụng” trong thùng rác của phòng khách sạn, họ kết luận rằng hai người này có “vi phạm hành chính”, nên đã tạm giữ họ ở một đồn cảnh sát địa phương. Công an cũng tịch thu máy tính mà ông Vũ mang theo để khám xét. Công an địa phương khẳng định rằng sau khi khám xét tư trang của ông Vũ, họ “phát hiện nhiều tài liệu có dấu hiệu vi phạm luật hình sự”, nên chuyển cho Bộ Công an để điều tra (35). Cùng ngày, công an phong tỏa biệt thự của ông Vũ ở Hà Nội để khám xét. Vợ ông Vũ khẳng định rằng theo lệnh khám xét, chồng bà bị bắt vì được cho là phạm một tội trong Bộ luật Hình sự (34).

Chiều ngày 6 tháng 11, Cơ quan An ninh Điều tra – Bộ Công an cho biết ông Cù Huy Hà Vũ bị bắt vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự (36). Cụ thể, ông Vũ “đã làm ra nhiều tài liệu có nội dung chống Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam để tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, đòi lật đổ chế độ, thực hiện đa nguyên đa đảng, đi ngược lại quyền lợi dân tộc, kêu gọi nước ngoài can thiệp”. Ngoài ra, ông Vũ còn bị buộc tội “làm ra các tài liệu, đưa thông tin thất thiệt, bịa đặt, xuyên tạc sự thật lãnh đạo và quản lý của Nhà nước, Chính phủ, gây hoang mang trong nhân dân”. Trong các tài liệu được viện dẫn để kết tội, có các bài viết của ông Vũ xoay quanh vấn đề chế độ Việt Nam Cộng hòa, vấn đề đa đảng, và các đơn kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ngày 4 tháng 4 năm 2011, ông Cù Huy Hà Vũ ra tòa, và bị kết án như đã nêu. Ngày 5 tháng 4, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bày tỏ quan ngại về việc Việt Nam vi phạm Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, và kêu gọi chính phủ Việt Nam “trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ ngay lập tức”. Ngày 6 tháng 4, đến lượt EU bày tỏ quan ngại tương tự. Cũng trong ngày 6 tháng 4, Giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu, người vừa trở thành một gương mặt truyền thông nổi tiếng sau khi giành huy chương Field 2010, ca ngợi ông Vũ trong bài viết mang tên “Về sự sợ hãi”. Trong bài, ông Châu viết:

“Nhưng với những gì xảy ra gần đây, ông thể hiện mình như một con người không tầm thường”.

“Như Hector người thành Troy, như Turnus người Rutuli hay như Kinh Kha người nước Vệ, ông Vũ không hề sợ hãi khi phải đối mặt với số phận của mình”.

“Những nhân vật huyền thoại này đã làm mọi thứ để được đối mặt với số phận, để hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc đời này”.

Ngày 9 tháng 4 năm 2011, trang Boxitvn của nhóm cựu lãnh đạo Viện IDS đăng lên một bản kiến nghị đòi thả Cù Huy Hà Vũ, với chữ kí của “hàng trăm chữ ký, bao gồm có các trí thức, cựu quan chức và tướng lãnh quân đội Việt Nam” (37). Bản án dành cho ông Vũ nhanh chóng trở thành một tâm điểm của dư luận.

Ngày 26 tháng 4, ông Nguyễn Anh Tuấn, sinh năm 1990, khi đó đang là sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia, gửi đến Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao một lá “Đơn tự thú”. Trong đơn, ông Tuấn khẳng định rằng mình đang tàng trữ những tài liệu “có nội dung chống nhà nước” mà ông Cù Huy Hà Vũ đã viết ra. Để chứng minh, ông Tuấn đính kèm đơn một bức ảnh, trong đó ông đang cầm trên tay những tài liệu đó. Tuấn lập luận rằng nếu Cù Huy Hà Vũ bị truy tố vì số tài liệu này, thì theo quy định của pháp luật, ông “cũng phải bị coi là có tội”. Vì vậy, trong đơn, ông Tuấn đề nghị Viện Kiểm sát truy tố mình theo cùng tội danh với ông Cù Huy Hà Vũ. Ông cũng viết rằng trong trường hợp Viện Kiểm sát không khởi tố ông, thì hành vi tàng trữ và làm ra các tài liệu nêu trên không thể coi là tội phạm. Trong trường hợp này, ông đề nghị Viện Kiểm sát kháng nghị bản án mà tòa đã tuyên với ông Vũ.

Bức ảnh đính kèm lá đơn, trong đó Nguyễn Anh Tuấn cầm trên tay các tài liệu được viết bởi ông Cù Huy Hà Vũ

Bức ảnh đính kèm lá đơn, trong đó Nguyễn Anh Tuấn cầm trên tay các tài liệu được viết bởi ông Cù Huy Hà Vũ

Ngay trong ngày 26 tháng 4, trước khi lá đơn kịp đến tay Viện Kiểm sát, ông Tuấn gửi lá đơn và một bức “tâm thư” đính kèm đến trang Boxitvn (38) và trang Anh Ba Sàm (39). Vào thời điểm đó, trang Boxitvn được xem như cơ quan ngôn luận của nhóm cựu thành viên Viện IDS, cùng “các trí thức, cựu quan chức và tướng lãnh” hậu thuẫn họ. Trong khi đó, trang Anh Ba Sàm – được điều hành bởi một cựu sĩ quan công an, con trai ông cựu Bộ trưởng Bộ Lao động Việt Nam – là trang điểm tin có đông người theo dõi nhất của phong trào đối lập Việt Nam vào thời điểm đó.

Trong bức “tâm thư” đính kèm, ông Tuấn viết:

“Thứ nhất, tôi làm điều này để bảo vệ nền pháp quyền non trẻ của đất nước tôi.

Thứ hai, tôi chẳng thể tìm thêm được gì để mà tiếp tục thỏa hiệp với nỗi sợ hãi và sự hèn nhát của bản thân mình.

Thứ ba, biết đến nhiều tấm gương dấn thân trong lịch sử và đọc nhiều về tư tưởng của họ, sẽ rất là hổ thẹn nếu tôi im lặng, bàng quan trước những bất công đang rõ ràng hiện hữu”.

Ngày 28 tháng 4, trả lời phỏng vấn đài BBC (40), ông Tuấn tuyên bố:

“Dù anh có giàu hay nghèo, tốt hay xấu, quốc tịch gì đi nữa, sinh ra ở Việt Nam thì anh cũng chung giống nòi máu đỏ da vàng. Mỗi người nên làm việc gì đó tốt cho đất nước, và tôi thấy bảo vệ nền pháp quyền là một việc tốt”.

Trong bài phỏng vấn, Tuấn cũng cho biết ông đã “chuẩn bị tinh thần cho những hậu quả có thể xảy đến với mình”.

Ngày 3 tháng 5, trên blog VOA, ông Bùi Tín – một cây bút đối lập nổi tiếng từng là Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam – có bài viết mang tên “Dấn thân độc đáo của sinh viên Nguyễn Anh Tuấn” (41). Trong bài, ông Tín mô tả hiệu ứng truyền thông mà lá đơn tạo ra:

“Họ chỉ mong với thời gian, mọi chuyện sẽ yên. Nhưng sóng gió vẫn nổi lên, giông bão còn nổi lên. Các trang internet truyền đi, hàng trăm blogger truyền đi, các paltalk mở tranh luận, mạng Dân làm báo với những tay gõ phím cừ khôi (…), rồi mạng Anh Ba Sàm, rồi ngoài nước, các đài phát thanh VOA, RFI, BBC, RFA…truyền đi rất nhanh, rất rộng về hiện tượng Nguyễn Anh Tuấn, bức ảnh điềm đạm kiên nghị của anh, lá đơn của anh, với bao nhiêu là bình luận, ca ngợi, khuyến khích và bài học thu nhận được ở anh…

Các bạn sinh viên trường Y dược, trường Văn hóa, trường Bách khoa Hà Nội, cùng các bạn trẻ các trường Luật và Sư phạm trong Sài Gòn đang bàn luận về hiện tượng Nguyễn Anh Tuấn. Theo tin từ trong nước, các bạn sinh viên nam nữ chú ý nhiều đến cách dấn thân độc đáo, thông minh, sâu sắc của bạn Anh Tuấn, chú ý đến động cơ của anh như anh viết trong đơn tự thú: «tôi làm điều này để bảo vệ nền pháp quyền non trẻ của đất nước tôi», và «tôi không thể tiếp tục thỏa hiệp với nỗi sợ hãi và sự hèn nhát của bản thân mình»”.

Ngày 10 tháng 5, ông Nguyễn Ngọc Già, cây bút quen thuộc của Dân Luận, bình luận như sau (42):

“Đối diện với bóng đêm ta dùng ánh sáng. Đối diện với gian tà ta dùng chính nghĩa. Chân lý là đây!

… Phải chăng yếu tố làm nên bất ngờ đến sửng sốt là đây? Thật ngẫu nhiên, số tuổi của chàng sinh viên Nguyễn Anh Tuấn khi viết “đơn tự thú” bằng đúng số tuổi của chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc quyết ra đi tìm đường thoát đời nô lệ vào năm 1911.

Việc làm của chàng sinh viên Nguyễn Anh Tuấn và chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc cách nhau tròn 100 năm. Mỗi người thanh niên đấy chọn cho mình một hướng đi nhưng cùng mục đích – xóa bỏ những bất công đang rõ ràng hiện hữu…

Ta có thể gọi đó là: Sự Độc Đáo của Tuổi Hai Mươi”.

Ngày 19 tháng 5 năm 2011, ông Tuấn viết một bức thư ngỏ, đăng trên trang Anh Ba Sàm. Trong thư, ông Tuấn cho biết hai việc.

Thứ nhất, ngày 13 tháng 5, ông đã được triệu tập lên trụ sở Cơ quan An ninh Điều tra của Bộ Công an để “xác minh thái độ, hành vi, nhận thức” của ông. Trong thư, ông cho biết ông “xác nhận hành vi và bảo lưu quan điểm”.

Thứ hai, ông Tuấn lưu ý rằng sau 20 ngày kể từ khi ông gửi đơn tự thú, vẫn chưa có cơ quan chức năng nào trả lời ông về việc giải quyết nội dung đơn. Ông viết rằng điều này “thể hiện thái độ thiếu tôn trọng công dân”, và rằng việc nhà chức trách không khởi tố ông đã thể hiện “hoặc là sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật của cơ quan chức năng, hoặc là gián tiếp thừa nhận Điều 88 Bộ luật Hình sự đã trở nên không còn phù hợp  nữa với nền pháp quyền mà đất nước đang theo đuổi” (43). Cuối thư ông có đoạn:

“Bên cạnh đó, thời gian vừa qua, nhiều người biết chuyện, đã tỏ ra lo lắng và khuyên bảo tôi nên cân nhắc sự an toàn của bản thân. Tôi cảm ơn tất cả sự quan tâm đó. Ngoài ra, cũng nhờ thế mà tôi nhận rõ thêm một nguyên nhân khiến tiến bộ xã hội ở nước ta vẫn còn trì trệ. Cũng bởi chúng ta tham lam quá: vừa muốn những điều tốt đẹp- tự do hơn, dân chủ hơn lại vừa muốn yên lành, an toàn để hưởng những điều tốt đẹp ấy.

Nhưng, không có hạnh phúc nào giá rẻ cả. Tôi vẫn hằng tin thế”.

Sau bức thư, ông Nguyễn Anh Tuấn không tiếp tục theo đuổi việc tự thú, hay nhắc lại về việc này, dù ông Cù Huy Hà Vũ tiếp tục ngồi tù đến năm 2014, và Điều 88 Bộ luật Hình sự không thay đổi cho đến thời điểm hiện nay.

Trả lời phỏng vấn ngày 1 tháng 2 năm 2016, khi ông Tuấn bị tạm giữ khi về nước, ông Trịnh Hữu Long cho biết mình và ông Tuấn đã gặp nhau trong “cuộc biểu tình đầu tiên ngày 5 tháng 6 năm 2011” (44). Chúng tôi được biết rằng sau đó, hai người gặp bà Phạm Đoan Trang, và trở thành một nhóm cộng sự thân thiết vào năm 2012. Trong thời gian này, ông Tuấn không xuất hiện trên truyền thông, dù vẫn giữ liên lạc thường xuyên với nhiều cá nhân và hội đoàn trong các phong trào chính trị và dân sự Việt Nam. Phải đến tháng 2 năm 2013, sau khi xuất cảnh, ông mới liên tục viết các bài chính luận được đăng lại bởi nhiều tờ báo.

 

Chú thích:

(1) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2009/09/090901_vnn_journalist_update.shtml

(2) http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/bat-tam-giam-blogger-me-nam-333295.html

(3) http://www.phamdoantrang.com/2010/03/right-side-left-side.html

(4) https://www.facebook.com/pham.doan.trang/posts/10154513562973322

(5) https://anhbasam.wordpress.com/the-he-f/

(6) https://anhbasam.wordpress.com/va-quyen-luc-thu-tu/

(7) http://vokhanhlinh98.blogspot.com/2014/01/ven-man-bi-mat-phia-sau-dan-admins-nhat.html

(8) http://www.bbc.com/vietnamese/multimedia/2012/12/121209_bieu_tinh_chong_trung_quoc.shtml

(9) https://anhbasam.wordpress.com/2012/12/11/1464-doi-thoai-nha-bao-doan-trang-ca-hoan-kiem-tai-trung-tam-loc-ha/

(10) http://blog.trinhhuulong.com/2014/01/giot-nuoc-mat-cua-nhung-nguoi-tien-phong.html

(11) https://anhbasam.wordpress.com/the-he-f/yeu-nuoc/#6

(12) https://anhbasam.wordpress.com/the-he-f/yeu-nuoc/#7

(13) https://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/khi-lich-su-cham-ten-tung-nguoi.html

(14) http://blog.trinhhuulong.com/2011/12/chuyen-lang-chuyen-nuoc.html

(15) https://xuandienhannom.blogspot.com/2011/06/mot-e-xuat-rat-quan-trong-va-y-nghia.html?m=1

(16) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2011/08/110827_hanoi_authaurity_meeting.shtml

(17) https://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/trinh-huu-long-ve-chuyen-co-ang-va-nha.html

(18) http://luatkhoa.org/2016/11/thu-toa-soan-luat-khoa-tap-chi-tron-2-tuoi/

(19) http://tiasang.com.vn/-dien-dan/buc-tranh-da-sac-cua-truyen-thong-viet-nam-2011-4739

(20) http://tiasang.com.vn/-khoi-nghiep/tich-tu-dat-dai-khong-con-la-luc-de-lo-ngai-4907

(21) http://tiasang.com.vn/-dien-dan/van-de-lap-phap-nhin-tu-phap-luat-dat-dai-4924

(22) http://plo.vn/xa-hoi/quan-ly-thong-tin-internet-ke-ca-noi-tuc-65150.html

(23) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2012/04/120426_van_giang_viet_legal

(24) http://blog.trinhhuulong.com/2013/04/nhan-quyen-va-chu-quyen-cai-nao-cao-hon.html

(25) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2012/06/120616_lethanglong_opinions.shtml

(26) https://boxitvn.blogspot.com/2012/12/loi-keu-goi-thuc-thi-quyen-con-nguoi.html

(27) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2011/04/110404_chhv_trial_opens

(28) http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/mot-hoa-si-kien-ubnd-thua-thien-hue-vi-doi-vong-canh-2025925.html

(29) http://vnca.cand.com.vn/doi-song-van-hoa/Hoa-si-luat-gia-Cu-Huy-Ha-Vu-mot-nam-ba-lan-khuay-dong-cong-luan-324635/

(30) http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ong-cu-huy-ha-vu-nop-don-ung-cu-chuc-bo-truong-2070495.html

(31) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2009/06/090612_cuhuyhavu_lawsuit.shtml\

(32) https://www.voatiengviet.com/a/hanoi-lawyer-vietnam-needs-a-multi-party-system-06-19-2010-96724789/870160.html

(33) https://www.voatiengviet.com/a/vietnam-china-us-07-24-2010-99174314/874643.html

(34) http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/tien-si-luat-cu-huy-ha-vu-bi-tam-giu-2179596.html

(35) http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/tien-si-cu-huy-ha-vu-bi-bat-vi-mot-toi-hinh-su-2179641.html

(36) https://chhv.wordpress.com/2010/11/10/b%E1%BA%AFt-ong-cu-huy-ha-vu-t%E1%BB%99i-%E2%80%9Ctuyen-truy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%91ng-nha-n%C6%B0%E1%BB%9Bc%E2%80%9D/

(37) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2011/04/110411_ha_vu_petition.shtml

(38) https://boxitvn.blogspot.com/2011/04/on-tu-thu.html

(39) https://anhbasam.wordpress.com/2011/04/26/d%C6%A1n-t%E1%BB%B1-thu-c%E1%BB%A7a-sinh-vien-nguy%E1%BB%85n-anh-tu%E1%BA%A5n/

(40) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2011/04/110428_student_petition.shtml

(41) https://www.voatiengviet.com/a/dan-than-doc-dao-05-03-2011-121171314/902014.html

(42) https://www.danluan.org/tin-tuc/20110510/nguyen-anh-tuan-su-doc-dao-cua-tuoi-hai-muoi-phan-1

(43) https://boxitvn.blogspot.com/2011/05/thu-ngo-cua-sinh-vien-nguyen-anh-tuan.html

(44) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/a-young-activis-decides-to-return-to-vn-ml-02012016113330.html

 


 

VII. Cuộc vận động trước kỳ UPR của Việt Nam năm 2014

 

1. Các đoàn thể tham gia

Đầu năm 2013, chính quyền Việt Nam đang ở trong “lộ trình gia nhập TPP”. Để được công nhận bởi các nước đã ký hiệp định này, họ phải tỏ ra tuân thủ nhiều luật chơi trong thứ mà họ gọi là “trật tự Mỹ”. Trong đó, có các luật chơi xoay quanh khái niệm “nhân quyền”. Đây là một cơ hội mà các phong trào chính trị và dân sự Việt Nam không bỏ lỡ.

Ngày 26 tháng 2 năm 2013, tại khóa họp thứ 22 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam tuyên bố rằng Việt Nam sẽ ứng cử vào hội đồng này. Như đã đề cập, một số hội đoàn trong các phong trào chính trị và dân sự Việt Nam đã chuẩn bị trước cho biến cố đó. Cụ thể, đầu tháng 6 năm 2012, ông Lê Thăng Long ra tù sớm hai năm so với bản án, và bất ngờ tuyên bố thành lập “Phong trào Con đường Việt Nam”, là phong trào chính trị đầu tiên ở Việt Nam lấy nhân quyền làm “mục tiêu tối thượng phải hoàn thành”. Ngày 25 tháng 12 năm 2012, trên trang Boxitvn, nhóm cựu thành viên Viện IDS đăng một văn bản mang tên “Lời kêu gọi thực thi quyền con người theo Hiến pháp tại Việt Nam”, với chữ kí của gần 100 người, bao gồm bà Nguyễn Thị Bình, cựu Phó Chủ tịch nước. Ngày 19 tháng 1, họ tiếp tục kí tên vào văn bản mang tên “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”. Trong kiến nghị này, họ tuyên bố rằng “một mục đích của việc thành lập Nhà nước là để bảo vệ các quyền đương nhiên của con người”, và yêu cầu “sửa Dự thảo theo đúng tinh thần của Tuyên ngôn về Quyền Con người năm 1948 và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia” (1).

Đầu năm 2012, Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn lần lượt xuất cảnh, mang theo những thông tin, mối quan tâm và đường dây liên hệ của người trong nước. Vì khóa học mà Asian Bridge và VOICE đồng tổ chức bắt đầu vào mùa thu, họ làm việc cho văn phòng VOICE để trang trải chi phí sống. Dù là người mới đến, có lẽ họ đã nắm giữ những vai trò không nhỏ trong công việc của tổ chức này. Chẳng hạn, trong một bài trần tình viết năm 2017, ông Trịnh Hữu Long khẳng định rằng những thông cáo báo chí của VOICE về việc tổ chức này không trực thuộc đảng Việt Tân đều do ông dự thảo (2). Có một điều dễ thấy, là từ khi tiếp nhận Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn vào danh sách nhân sự của mình, VOICE bắt đầu mang một hình ảnh hoàn toàn khác. Trước đó, VOICE chủ yếu là một tổ chức từ thiện của người nước ngoài gốc Việt, không có nhiều mối liên hệ với trong nước, không tác động đến đường hướng của các phong trào chính trị và dân sự, và không thu hút được sự chú ý của chính quyền Việt Nam. Từ khi Trang, Long và Tuấn ra nhập, VOICE trở thành một trong những hội đoàn được chính quyền chú ý nhất, một tổ chức quyết định cả đường hướng lẫn nhịp độ hành động của phong trào đối lập, và một trung tâm đào tạo nhân sự công khai của phong trào.

Ngày 5 tháng 5 năm 2013, Trịnh Hội đăng lên blog VOA của mình bài viết mang tên “UPR & Việt Nam” (3). Trong bài, ông Hội trình bày ngắn gọn cơ chế UPR (Ra soát Định kỳ Phổ quát) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, và cho biết kỳ UPR tiếp theo sẽ diễn ra vào tháng 1 năm 2014. Ông Hội khẳng định rằng rằng nếu muốn tác động đến kết luận của Liên hợp quốc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, các đoàn thể chính trị và dân sự phải viết báo cáo để đệ trình lên Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc về Nhân quyền. Ông không quên lưu ý thêm rằng “nếu sợ bị đàn áp hoặc trả thù, các tổ chức hay cá nhân có thể nộp đệ trình thông qua một tổ chức phi chính phủ quốc tế như VOICE chẳng hạn”.

Đây là một gợi ý mà hầu hết các tổ chức đối lập trong nước đều vui lòng làm theo. Không phải bởi họ “sợ bị đàn áp hoặc trả thù”, mà bởi họ không đủ năng lực để tự viết báo cáo. Vào thời điểm đó, hầu hết các gương mặt đối lập trong nước không có hai thứ cần thiết để viết báo cáo, là kiến thức luật pháp và kĩ năng tiếng Anh. Ngoài nhóm Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn ra, chỉ có ba nhóm người trong nước đã được trang bị, hoặc có khả năng tự trang bị cho bản thân hai kĩ năng đó. Một là nhóm miền Nam của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Nguyễn Hoàng Vi, liên quan đến lực lượng Công giáo ở miền Nam và trang Dân Làm Báo. Hai là ông Nguyễn Văn Đài, một luật sư từng ngồi tù chính trị. Ba là ông Nguyễn Quang A, cựu Viện trưởng Viện IDS. Số nhân sự còn lại của Đảng Dân chủ Việt Nam và Tập hợp Thanh niên Dân chủ cũng có khả năng, nhưng họ không còn nhiều hậu thuẫn trong nước. Tình thế này có lợi cho VOICE. Trong thực tế, ông Nguyễn Văn Đài là một cộng tác viên của VOICE, và cả Dân Làm Báo lẫn ông Nguyễn Quang A đều phối hợp nhuần nhuyễn với VOICE trong kế hoạch tác động đến kỳ UPR năm 2014.

Bài báo của ông Trịnh Hội đã vạch ra đường lối chủ đạo, và xác định mối quan tâm chính của phong trào đối lập Việt Nam trong ít nhất một năm kế đó.

Tháng 1 năm 2014, ông Vũ Đông Hà, chủ trang Dân Làm Báo, có bài viết mang tên “Từ Sài Gòn – Hà Nội đến Washington DC – Geneva: Con đường Nhân Quyền” (4). Trong bài, ông Hà kể lại quá trình phối hợp giữa các tổ chức để soạn thảo báo cáo UPR:

“Vào tháng 5 năm 2013 trong khi nhà nước Việt Nam đang vận động ráo riết để được trở thành thành viên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, thì các bạn trẻ của VOICE, Dân Làm Báo, Truyền thông Chúa Cứu Thế, Con Đường Việt Nam và các blogger nòng cốt sau này của Mạng Lưới Blogger Việt Nam đã cùng với tổ chức Freedom House soạn thảo Báo cáo Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (Universal Periodic Review – UPR) để gửi đến Hội Đồng Nhân quyền.

Ban soạn thảo đã chia nhau ra từng lãnh vực, trong đó VOICE đặc trách lĩnh vực xã hội dân sự và dân oan, Dân Làm Báo về tự do ngôn luận, Truyền thông Chúa Cứu thế trình bày những vấn nạn của tự do tôn giáo và Con Đường Việt Nam nói về tình trạng xét xử bất công và giam giữ tù nhân chính trị một cách khắc nghiệt tại Việt Nam.

Đây là bước đầu trong một nỗ lực phối hợp dài hạn của các bạn trẻ tranh đấu cho Nhân Quyền tại Việt Nam”.

 

2. Mạng lưới của 5 cánh quân

Ngày 18 tháng 7 năm 2013, một tập hợp các blogger, tự xưng là “Mạng lưới Blogger Việt Nam”, đồng loạt đăng tải văn bản mang tên “Tuyên bố của Mạng lưới Blogger Việt Nam” (5).

Văn bản có đoạn:

“Là một ứng cử viên vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam phải chứng minh các cam kết của mình nhằm hợp tác với Hội đồng Nhân quyền và duy trì “những chuẩn mực cao nhất trong việc xúc tiến và bảo vệ nhân quyền”.

Đồng thời, những người soạn thảo tuyên bố thêm:

“Để cải thiện việc bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam, chúng tôi sẽ thực thi các nguyên tắc của Hội đồng Nhân quyền như những hướng dẫn cho các hành động của chúng tôi, vốn cũng đồng thời tuân thủ các nghĩa vụ của Việt Nam theo luật nhân quyền quốc tế”.

” Chúng tôi sẽ:

– Tiếp tục xúc tiến và truyền đạt đến người dân Việt Nam về các quyền của họ bằng cách phân phối công khai bản Tuyên ngôn nhân quyền, tổ chức các diễn đàn công khai để thảo luận về nhân quyền ở Việt Nam và vận động cho những sự cải thiện cần thiết trong việc tôn trọng và bảo vệ nhân quyền.

– Tiếp tục giám sát, báo cáo và bình luận công khai về sự cải thiện, thụt lùi hay vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, với sự tập trung vào vấn đề chính sách và thực thi chính sách ảnh hưởng đến nhân quyền do nhà chức trách Việt Nam tiến hành”.

Những người kí tên vào bản tuyên bố này trong đợt đầu đã đồng loạt phát tán nó vào cùng một thời điểm. Trong bản tuyên bố không có tên người soạn thảo, hay cá nhân đại diện cho Mạng lưới Blogger Việt Nam. Một số người trong cuộc cho chúng tôi biết rằng họ cố ý làm vậy. Theo bộ lí thuyết về cách mạng đường phố mà các tổ chức trong phong trào “Mùa Xuân Arab” đã áp dụng, mánh truyền thông này sẽ khiến người đọc nghĩ “Mạng lưới Blogger Việt Nam” là một phong trào không có tổ chức, không có người lãnh đạo, không ràng buộc nhau bằng tài chính hoặc quyền hành. Thay vào đó, họ tin rằng nó chỉ là một khối đoàn kết của những blogger hoàn toàn bình đẳng với nhau, do tình cảm chung mà hình thành tự phát. Nếu có một ấn tượng ban đầu như vậy, quần chúng sẽ dễ ủng hộ phong trào hơn hẳn, vì họ không nghi ngại rằng các cá nhân lãnh đạo, người cấp vốn, hoặc thế lực chính trị đứng đằng sau phong trào đó có những toan tính riêng. Mặt khác, trong trường hợp một người tham gia “mạng lưới” này bị bắt, phía chính quyền sẽ khó kết án hơn, và người bị bắt trông cũng tội nghiệp hơn trong mắt quốc tế. Ngay cả khi người bị bắt đã thật sự tham gia các hoạt động chính trị đối lập, thì trong bản báo cáo gửi Liên hiệp quốc, VOICE và các tổ chức khác vẫn có thể viết rằng vị này bị bắt chỉ vì ký tên vào một bản tuyên bố ủng hộ nhân quyền, và viết blog để biểu đạt chính kiến cá nhân.

Trong thực tế, mánh truyền thông này đã bị lạm dụng. Trong danh sách những người đầu tiên kí tên vào “Tuyên bố của Mạng lưới Blogger Việt Nam”, nhiều người chưa từng sử dụng blog, thậm chí chưa từng viết bất cứ một bài hoàn chỉnh nào để đăng lên Internet. Trong đó, có cả một số người từng đến các sứ quán để trao bản tuyên bố, trong một chuỗi sự kiện được truyền thông rầm rộ. Phải đến tháng 12 năm đó, hiện tượng đầy mâu thuẫn này mới được hợp thức hóa bằng một lời giới thiệu chính thức trên website mới của Mạng lưới Blogger Việt Nam (6). Theo đó bất cứ ai “ủng hộ những mục tiêu, giá trị cốt lõi và niềm tin của Mạng lưới Blogger Việt Nam” đều có thể tự xem mình như một thành viên của Mạng lưới này.

 

3. Dân Làm Báo và chuỗi sự kiện trong nước

Tất nhiên, vì bản Tuyên bố phải được một người soạn thảo trước khi được kí tên bởi mọi người, và vì ngay từ ngày thành lập, Mạng lưới Blogger Việt Nam đã có một blog, biểu tượng và địa chỉ email riêng, có nhiều lí do để cho rằng sự bình quyền của Mạng lưới Blogger Việt Nam không vươn ra ngoài bản danh sách chữ kí. Biểu tượng của Mạng lưới Blogger Việt Nam tình cờ có chung font chữ, mà sắc và phong cách thiết kế với biểu tượng của trang Dân Làm Báo. Cả hai đều chọn màu xanh lá cây làm màu hiệu cho cuộc cách mạng đường phố sắp diễn ra. Cũng có nhiều chi tiết cho thấy phía Dân Làm Báo chủ động quyết định nội dung, thời điểm cho các hoạt động trong nước của Mạng lưới Blogger Việt Nam, và cách thức đưa tin về những hoạt động này. Chẳng hạn, khi các thành viên Mạng lưới ở Hà Nội đến sứ quán Mỹ để trao bản Tuyên bố vào ngày ngày 24 tháng 7 năm 2013, những người này không trao đổi được gì nhiều, ngoài trả lời vài lời hỏi thăm mang tính xã giao từ các nhân viên sứ quán. Mạng lưới Blogger Việt Nam chỉ đăng lại một bài phỏng vấn của RFI để đưa tin về sự kiện (7). Tiếp đó, khi các thành viên Mạng lưới ở Hà Nội đến trao Tuyên bố ở sứ quán Thụy Điển, họ cũng không trao đổi được gì với sứ quán ngoài những lời xã giao. Bài viết ngắn của Mạng lưới Blogger về sự kiện không cung cấp được thông tin nào khác, ngoài chuyện những người đi trao Tuyên bố đã bị chính quyền ngăn cản, xét hỏi như thế nào (8). Sau đó ít ngày, bà Nguyễn Hoàng Vi, một gương mặt quen thuộc trên Dân Làm Báo, từ thành phố Hồ Chí Minh bay ra Hà Nội. Ngày 23 tháng 8, bà Vi cùng các thành viên Hà Nội đến sứ quán Australia để trao tuyên bố (9). Đây là lần đầu tiên phía Mạng lưới trình bày cho sứ quán biết chi tiết của các vụ “vi phạm nhân quyền”, và chi tiết những đề nghị của họ. Đây cũng là lần đầu tiên mà nội dung cuộc gặp được phía Mạng lưới Blogger Việt Nam tường thuật một cách chi tiết. Cuộc gặp với sứ quán Đức vào ngày 27 tháng 8, cũng có bà Vi góp mặt, kéo dài hai tiếng và được tường thuật còn chi tiết hơn (10). Để che bớt vai trò của bà Vi trong những hoạt động này, vào cùng thời điểm, Mạng lưới đã khéo léo cơ cấu cho ông Nguyễn Tường Thụy từ Hà Nội, và bà Trần Thị Nga từ Hà Nam, bay vào TP.HCM để dự sự kiện mang tên “Cà phê 258”, diễn ra vào ngày 25 tháng 8 (11). Cùng ngày, buổi “Cà phê 258” ở Hà Nội cũng được tổ chức, với bà Nguyễn Hoàng Vi là đại diện miền Nam bay ra tham dự (12). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong một danh sách dài những gương mặt đối lập ở miền Bắc Việt Nam, cả ông Thụy lẫn bà Nga đều nổi tiếng nhờ thành tích cá nhân, nhưng không đóng vai trò quan trọng nào về mặt tổ chức. Họ không đại diện cho quan điểm và kế hoạch của các thành viên miền Bắc trong mạng lưới, họ chỉ là hai gương mặt miền Bắc được chọn để xuất hiện trên truyền thông. So sánh hai buổi gặp mặt ở miền Bắc và miền Nam, có thể thấy cuộc gặp ở miền Nam – nơi tập trung nhiều cây bút của Dân Làm Báo – được chăm chút hơn hẳn về mặt tổ chức và nội dung, trong khi cuộc gặp ở miền Bắc thì không như thế. Sau cùng, cần lưu ý rằng ngay cả cuộc “Cà phê 258” ở miền Bắc cũng được tường thuật bởi bà Hoàng Vi, là khách từ miền Nam ra dự, dù các thành viên Hà Nội của Mạng lưới hoàn toàn có đủ phương tiện và năng lực để làm công việc đưa tin.

Cuối năm 2013, để kỉ niệm ngày Quốc tế Nhân quyền, Mạng lưới Blogger Việt Nam tổ chức phát bóng bay và áo phông cổ vũ nhân quyền ở TP.HCM, Nha Trang và Hà Nội. Họ chọn áo và bóng màu nâu và xanh lá cây nhạt, trùng với màu của trang Dân Làm Báo, trong khi logo nhân quyền thường dùng trên thế giới có màu xanh lơ.

 

4. VOICE và chuỗi sự kiện ở Thái Lan

Trong khi các hoạt động trong nước của Mạng lưới Blogger Việt Nam dường như được phía Dân Làm Báo lên kế hoạch, trong mọi hoạt động ở nước ngoài, VOICE đều hiện diện một cách rõ nét.

Trong khi các gương mặt trong nước của Mạng lưới Blogger Việt Nam liên tục kéo đến các sứ quán để trực tiếp trao báo cáo, trước không khí hồ hởi của truyền thông đối lập và thái độ khó chịu của phía chính quyền Việt Nam, thì ở nước ngoài, VOICE cũng gấp rút tổ chức những cuộc gặp ồn ào tương tự. Tuy nhiên, thay vì đến sứ quán của các nhà nước nước phương Tây, lần này họ đến trụ sở của các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ. Dù VOICE mới là người sắp xếp thời gian và dẫn dắt nội dung của các cuộc gặp, đi cùng hai thành viên của tổ chức này – là Phạm Đoan Trang và Nguyễn Anh Tuấn – còn có ba gương mặt khác của Mạng lưới Blogger Việt Nam.

Cuối tháng 7 năm 2013, ba thành viên trong nước của Mạng lưới Blogger Việt Nam sang Thái Lan để tham gia các cuộc gặp mà VOICE dàn xếp. Họ bao gồm ông Nguyễn Lân Thắng, bà Nguyễn Thảo Chi và bà Nguyễn Nữ Phương Dung. Ông Thắng là đại diện của nhóm “No-U Hà Nội”, một mạng lưới được thành lập để tổ chức biểu tình và lấy chữ kí cho các kiến nghị, trong đó ông Nguyễn Quang A nắm vai trò quan trọng. Bà Chi là em gái bà Nguyễn Hoàng Vi, là một người công giáo miền Nam, và có thể xem như một đại diện của Dân Làm Báo. Bà Nguyễn Nữ Phương Dung là thành viên của Phong trào Con đường Việt Nam. Như vậy, có thể thấy rằng cả năm lực lượng đã tham gia kế hoạch nhân quyền ngay từ đầu – bao gồm bốn tổ chức tham gia soạn thảo báo cáo UPR mà ông Vũ Đông Hà đã đề cập, và mạng lưới những người biểu tình, kí kiến nghị ở miền Bắc có liên hệ với ông Quang A – đều đã được cơ cấu để có chỗ đứng trong chuyến đi này. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khi gặp các tổ chức quốc tế và khi lên tiếng trên truyền thông, họ đều chỉ xưng là “thành viên Mạng lưới Blogger Việt Nam”, chứ không nêu ra tổ chức mà mình thật sự gắn bó. Như vậy, có thể hiểu rằng cơ cấu nhân sự trong các cuộc gặp này không mang tính nghi thức bắt buộc, cũng không nhằm mục đích truyền thông. Trong khi đó, chi phí để đưa ba người trong nước đi Thái Lan cũng không nhỏ, nhất là chi phí nảy sinh từ các động thái của phía chính quyền trước và sau sự kiện. Mặt khác, rõ ràng Mạng lưới Blogger có thể thăm viếng và trao đổi với các tổ chức quốc tế và NGO nước ngoài chỉ bằng hai thành viên của VOICE. Như vậy, có thể hiểu rằng bốn tổ chức còn lại không yên tâm để VOICE làm điều đó. Có thể họ không muốn VOICE nắm trọn các mối quan hệ cá nhân nảy sinh sau các cuộc gặp này, cùng các nguồn hỗ trợ về tài chính, sự bảo hộ và thông tin sinh ra từ mối quan hệ.

Cơ cấu nhân sự bất đắc dĩ này làm nảy sinh một tình huống buồn cười, mà cho đến nay ít người để ý. Vào thời điểm đó, hai trong số ba người vừa được cử từ trong nước ra, là bà Nguyễn Nữ Phương Dung và bà Nguyễn Thảo Chi, thực ra không có blog, và cũng chưa từng viết bài hoàn chỉnh nào để đăng lên Internet.

Từ trái sang phải: Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thảo Chi, Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Nữ Phương Dung

Từ trái sang phải: Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thảo Chi, Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Nữ Phương Dung

Trong gần một tuần, từ ngày 31 tháng 7 đến ngày 5 tháng 8, phái đoàn của Mạng lưới Blogger Việt Nam đã đến thăm trụ sở, để gặp và trao đổi với tất cả 6 tổ chức. Cụ thể, ngày 31 tháng 7, họ đến Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về Nhân quyền (OHCHR) (15). Ngày 1 tháng 8, họ đến văn phòng của Prachaithai, “tờ báo đối lập hàng đầu ở Thái Lan”, để gặp đại diện của Front Line Defenders (16). Ngày 2 tháng 8, họ gặp đại diện của Ủy ban Bảo vệ Ký giả (Committee to Protect Journalist – CPJ) (17). Cũng trong ngày đó, họ đến văn phòng của Ủy ban Luật gia Quốc tế (The International Commission of Jurists – IJC) ở Bangkok (18). Ngày 4 tháng 8, họ gặp Phó Giám đốc khu vực Châu Á của Human Rights Watch (19). Ngày 5 tháng 8, họ gặp Giám đốc Điều hành và Điều phối viên Chiến dịch Vận động của Liên minh Báo chí Đông Nam Á (Southeast Asia Press Alliance – SEAPA) tại văn phòng của tổ chức này ở Thái Lan.

Nhìn chung, cả sáu cuộc gặp nêu trên đều diễn ra theo cùng một kịch bản. Đầu tiên, các thành viên của Mạng lưới Blogger Việt Nam, mà ở đây chủ yếu là hai người của VOICE, sẽ trình bày tình trạng vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống của pháp luật Việt Nam, trong đó có Điều 258 Bộ luật Hình sự, qui định “tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để xâm phạm lợi ích hợp pháp của nhà nước”. Sau đó, họ sẽ nêu ví dụ về một số gương mặt đối lập từng bị tạm giam hoặc truy tố do những điều luật vi phạm nhân quyền vừa nêu. Họ nhấn mạnh rằng chính quyền Việt Nam đang ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nên cần nhân cơ hội này để tác động, nhằm buộc Việt Nam từ bỏ các điều luật vi phạm nhân quyền. Cuối cùng, họ đề nghị các đối tác mà họ đang gặp “giúp đỡ cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam”, thông qua việc “lên tiếng” với Liên hợp quốc, các chính phủ và các tổ chức quốc tế khác, việc “ra tuyên bố lên án Điều 258”, và việc cung cấp cho “các blogger Việt Nam” những khóa đào tạo trong phạm vi chuyên môn của đối tác. Nhìn chung, các buổi gặp thường diễn ra dưới không khí “thân tình”, và đối tác đều tỏ vẻ “quan tâm” đến các trường hợp tù đày mà “các blogger Việt Nam” đề cập. Mỗi đối tác sẽ kể một loạt những công việc mà họ đã làm để “cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam”. Sau đó, họ sẽ hỏi thêm thông tin về những trường hợp mà họ “đặc biệt quan tâm”. Cuối cuộc gặp, chỉ có Front Line Defenders đưa ra một cam kết cụ thể, theo đó họ hứa sẽ ra tuyên bố lên án Điều 258, và sẽ “nghiên cứu và tổ chức những khóa học về an toàn thông tin dành cho các blogger Việt Nam”. Tuy không đưa ra cam kết cụ thể nào, đại diện của Ủy ban Bảo vệ Ký giả đã tặng mỗi “blogger” một cuốn sách ông viết, kèm theo chữ ký. Đại diện của Human Right Watch giới thiệu cho Mạng lưới Blogger Việt Nam “thêm nhiều tổ chức quốc tế khác”, và đề nghị các “blogger” đến gặp số tổ chức này. OHCHR đề nghị các “blogger” viết báo cáo về tất cả các vụ vi phạm nhân quyền để gửi cho họ. Quan trọng hơn, tất cả các đối tác đã gặp đều đề nghị “các blogger Việt Nam” tiếp tục liên lạc với họ để hợp tác.

Khi trả lời phỏng vấn đài RFI sau chuyến đi, bà Nguyễn Nữ Phương Dung đã hé lộ một chút thông tin về hình thức hợp tác mà họ đề nghị. Cuộc phỏng vấn có đoạn sau:

“Những tổ chức nhân quyền khác, khi nói chuyện, đặc biệt họ rất quan tâm đến anh Điếu Cày, Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Đinh Nhật Uy và nhiều tù nhân chính trị khác. Và họ nói rằng họ cần rất nhiều hồ sơ, nhưng mà Việt Nam lại có quá ít những báo cáo gửi cho họ. Với lại, họ khuyên các blogger nên có một mạng lưới, giống như một cái hotline, để liên kết lại với nhau.

…Họ khuyên là nên có một hotline để khi một blogger bị hành hung, hay bị một vấn đề gì đó, thì họ nói có (thông tin) ngay tới các đại sứ quán trong nước và quốc tế, thì thế giới có thể biết được, và họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến blogger đó”.

 

5. Phương thức truyền thông

Một nguồn tin riêng của chúng tôi  từng là thành viên của Mạng lưới Blogger Việt Nam và tình cờ tham gia chuỗi hoạt động trong nước của Mạng lưới. Sau khi xem xét một số thông tin của người trong cuộc, chúng tôi thấy chuỗi sự kiện mà Mạng lưới tổ chức trong năm 2013, ở cả Việt Nam lẫn Thái Lan, có vài điểm cần lưu ý về mặt phương thức.

Thứ nhất, phải thừa nhận rằng mục đích thật của từng sự kiện thường không trùng với mục đích mà Mạng lưới tuyên bố trên truyền thông. Theo “Lời kêu gọi của Mạng lưới Blogger Việt Nam”, thì chuỗi sự kiện mà họ tổ chức trong năm 2013 chỉ nhằm hai mục đích:

“- Cung cấp cái nhìn chân thực hơn về tình hình nhân quyền ở Việt Nam cho cộng đồng quốc tế, chứng tỏ với các tổ chức hữu trách toàn cầu về những vi phạm có hệ thống của chính quyền Việt Nam đối với những cam kết về nhân quyền mà nó đã từng ký kết và thông qua.

– Đòi hỏi chính quyền Việt Nam sửa đổi  những điều khoản luật hiện hành trái với Bộ luật Nhân quyền Quốc tế mà một trong số đó là Điều 258 Bộ luật Hình sự đang bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận trong nước”.

Nếu Mạng lưới chỉ đặt hai mục đích trên, thì thay vì tổ chức một chuỗi sự kiện rầm rộ trong suốt một năm, họ chỉ cần làm một thao tác ngắn gọn. Đó là viết một thư điện tử đính kèm bản Tuyên bố và danh sách chữ kí, cùng những tài liệu phụ trợ, rồi gửi nó cho Liên hiệp quốc, các tổ chức quốc tế và các sứ quán phương Tây. Làm thế, họ sẽ tiết kiệm được lượng thời gian và tiền của mà hàng chục người bỏ ra để đi gặp các sứ quán, đi lại giữa hai miền Việt Nam, hoặc ăn ở một tuần ở ngoại quốc. Quan trọng hơn, họ sẽ tránh được các rủi ro an ninh và sự phiền nhiễu mà từng thành viên phải đối mặt khi thách thức chính quyền Việt Nam trong chuỗi sự kiện này. Tuy nhiên, vì họ không chọn gửi email, các hoạt động của Mạng lưới Blogger Việt Nam hẳn nhiên phải nhằm mục đích khác.

Mục đích đầu tiên là đẩy chính quyền Việt Nam vào các tình huống khó xử. Khi chính quyền phải đối phó với chuỗi sự kiện này trong giai đoạn mà họ buộc phải nhượng bộ phương Tây, dù họ đưa ra lựa chọn nào, họ cũng chịu thiệt, và năm nhóm đối lập trong Mạng lưới Blogger Việt Nam cũng được lợi. Cụ thể, nếu chính quyền ngăn cản “các blogger Việt Nam” tìm đến sứ quán của một quốc gia, hoặc trụ sở của một tổ chức quốc tế, họ sẽ bị coi là đang gây sự với quốc gia hoặc tổ chức này. Mỗi lần chuyện này xảy ra, “hồ sơ nhân quyền” của Việt Nam sẽ bị chấm thêm một điểm xấu. Hồ sơ nhân quyền của Việt Nam càng xấu, thì các nước thành viên cũ của TPP càng có thế cao hơn Việt Nam khi đàm phán về các điều khoản gia nhập. Nói cách khác, lượng áp lực buộc chính quyền Việt Nam hoặc sửa luật, hoặc mất lợi ích kinh tế sẽ lớn hơn. Trong khi đó, nếu chính quyền làm ngơ cho “các blogger Việt Nam” tự do hành động, họ sẽ tạo ra một tiền lệ xấu, trong đó phe đối lập không phải trả giá nếu vi phạm những điều luật bảo vệ thể chế hiện hành. Tóm lại, dù chọn phương án nào, chính quyền Việt Nam cũng tự khiến hệ thống luật pháp bảo vệ mình bị suy yếu. Trong khi đó, dù chính quyền chọn phương án nào, phe đối lập cũng sẽ được đóng vai chính diện. Nếu chính quyền chọn đàn áp, họ sẽ đóng vai các nạn nhân tội nghiệp trong mắt chính giới phương Tây. Còn nếu chính quyền chọn cách thỏa hiệp, họ sẽ làm truyền thông sao cho phương Tây và các thế lực khác trong xã hội Việt Nam nhìn họ như kẻ chiến thắng, và như một cơ hội để đầu tư vốn.

Mục đích thức hai mà năm tổ chức đằng sau Mạng lưới Blogger Việt Nam hướng đến là tạo ra các hoạt động giúp duy trì sự tồn tại của tổ chức của họ. Trừ Truyền thông Chúa Cứu thế, là một đoàn thể tôn giáo ra, cả bốn tổ chức còn lại đều không thật sự thành công trong việc đạt được các mục tiêu mà ban đầu họ tuyên bố. Cụ thể, trang Dân Làm Báo ban đầu mang tên “Free Lê Công Định”, được thành lập để vận động đòi tự do cho ông Lê Công Định. Ông Định đã nhận được bản án nhẹ hơn hai cộng sự cùng ra tòa với ông, nhưng chủ yếu do ông “thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra hối hận về hành động của mình”, và “có nhân thân tốt” (21). Nhìn chung, trước và sau khi ông Định được thả vào tháng 2 năm 2013, vụ Lê Công Định được dư luận khi đó coi như một chiến thắng của chính quyền Việt Nam hơn là của báo chí đối lập cùng chính giới phương Tây, và sự nghiệp chính trị của ông Định sau khi ra tù cho thấy nhận định này ít nhiều có cơ sở. Các hoạt động từ thiện của VOICE vẫn diễn ra một cách sôi động và trôi chảy, nhưng họ liên tục vướng phải các vụ bê bối về tài chính và danh tính, đồng thời thất bại trong việc đưa người ra nước ngoài để đào tạo, một mục tiêu mà ngay từ ngày đầu thành lập họ đã đề ra. Vào thời điểm đó, nhóm No-U và các đoàn thể thân Viện IDS khác đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng về đường lối, vì sau hai năm kể từ cuộc biểu tình chống Trung Quốc vào ngày 5 tháng 6 năm 2011, họ vẫn chưa có hoạt động nào khác ngoài kí kiến nghị và biểu tình. Cả hai hoạt động này đều đã thất bại trong việc thúc đẩy chính quyền thay đổi chính sách đối ngoại, cũng như trong việc thúc đẩy dân chúng Việt Nam quan tâm hơn đến vấn đề “chống Trung Quốc”. Sự thất vọng và nhàm chán trước tình trạng này, và trước thái độ cực đoan, bất nhã của những người biểu tình (như bà Phạm Đoan Trang và ông Trịnh Hữu Long đã chỉ ra), đã khiến nhóm No-U mất đi hầu hết nhân sự trẻ và có trình độ vào thời điểm đó. Trong khi đó, đầu năm 2013, Phong trào Con đường Việt Nam còn non trẻ vẫn đang bị công chúng nghi ngại, chủ yếu do những bất minh trong khâu thành lập và mượn danh tính. Việc ông Lê Công Định (một trong những người mà Phong trào này nhận làm cha đẻ) im lặng và thờ ơ với nó sau khi ra tù (22) đã góp phần gia tăng sự hoài nghi. Sau cùng, chính bộ ba Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn cũng đang cần gấp một hoạt động sôi nổi ở cả trong nước lẫn nước ngoài, phần để trang trải chi phí sống ở Philippines, phần để không bị người trong nước lãng quên, cắt quan hệ và hậu thuẫn. Sự nghiệp của cả ba người này đều được dựng trên các hoạt động truyền thông, và họ hiểu rằng để có đường về, họ phải khiến cộng đồng nhìn chuyến xuất ngoại của mình như một cuộc “tìm đường cứu nước” nhiều vinh quang, thay vì như một cuộc tháo chạy.

Chuỗi sự kiện “trao Tuyên bố” này còn nhằm một mục đích nữa, mà những người tổ chức chỉ đề cập đến trong những trao đổi cá nhân. Họ coi chuỗi sự kiện này như một cơ hội khó bỏ qua để xây dựng “vốn uy tín và quan hệ” cho các đoàn thể và cá nhân tham gia nó. Trong chuyện này, cần lưu ý rằng người Việt Nam có một câu thành ngữ về bí quyết thành công trong sự nghiệp, là “Nhất tiền tệ, nhì quan hệ”. Khi tìm chỗ dựa cho sự nghiệp của mình, người Việt Nam xem trọng sự hỗ trợ về tài chính và quan hệ cá nhân mà người khác cung cấp cho họ hơn là năng lực làm việc thực tế của bản thân. Trong suốt thế kỷ 20, mọi lực lượng chính trị Việt Nam từng có chút tiếng tăm trên mặt báo đều lệ thuộc vào một nước phương Tây, Nga, Nhật hoặc Trung Quốc, về mặt chính trị và kinh tài. Người ta tin rằng khi họ tìm đến các sứ quán và tổ chức quốc tế để “trao Tuyên bố của Mạng lưới Blogger Việt Nam”, những cuộc gặp mặt trực tiếp này sẽ giúp họ có được nhiều mối quan hệ cá nhân hữu ích. Nhờ chúng, họ sẽ tìm thấy chỗ dựa về mặt danh tính và tài chính để chống đỡ với chính quyền, và để vượt mặt các tổ chức, cá nhân đang cạnh tranh với họ trong phong trào chung. Nhìn diễn biến thực tế của các phong trào chính trị và dân sự ở Việt Nam từ năm 2013 đến nay, có thể thấy tính toán này của họ là có căn cứ. Sau cùng, cũng cần lưu ý rằng người Việt Nam khá sính ngoại. Một thanh niên đi “trao Tuyên bố” ở các sứ quán nước ngoài, hoặc từng công du một loạt các tổ chức quốc tế – bao gồm cả văn phòng trực thuộc Liên hợp quốc, sẽ được một bộ phận công chúng không nhỏ coi như một người hiểu biết, từng trải, một tiếng nói chính trị có trọng lượng và cần được lắng nghe. Các thành viên Mạng lưới Blogger Việt Nam trực tiếp đi “trao Tuyên bố” là để chụp ảnh chung với thật nhiều người nước ngoài, rồi tung số ảnh này lên truyền thông để gây thanh thế cho họ. Chính vì một tính toán tương tự, mà hồi năm 2006, hai ông Nguyễn Sĩ Bình và Nguyễn Xuân Ngãi từng tìm mọi cách để ông Nguyễn Tiến Trung được chụp ảnh cùng Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Canada.

Trong những người nước ngoài nhận bản Tuyên bố, có lẽ không phải ai cũng hiểu rõ ba lý do này. Chẳng hạn, khi “các blogger Việt Nam” đến trụ sở SEAPA ở Thái Lan, đại diện của tổ chức này đã tỏ ra ngạc nhiên vì “lần đầu tiên có 1 tập hợp blogger tìm đến SEAPA và nhiều tổ chức quốc tế khác để trao tận tay Tuyên bố” (23). Lối hành động này có thể lạ lẫm với người nước ngoài, nhưng ở Việt Nam thì nó là thông lệ.

Như vậy, với những tính toán vừa nêu, trong chuỗi sự kiện này, khó có thể xem “các blogger Việt Nam” như những nạn nhân thụ động của thể chế. Bởi trong thực tế, chính chính quyền Việt Nam mới bị họ đẩy vào thế thụ động. Năm đoàn thể đằng sau Mạng lưới Blogger Việt Nam đã chủ động chọn cho mình vai diễn nạn nhân, một vai diễn mà họ cho là có lợi cho họ, và gây bất lợi cho chính quyền. Và như thông tin được cung cấp trong đoạn trả lời phỏng vấn của bà Nguyễn Nữ Phương Dung, một số chính khách và tổ chức phương Tây hoàn toàn ủng hộ vở diễn. Phương Tây, người đang chuẩn bị đóng vai anh hùng cứu độ, đã tận tình hướng dẫn “các blogger Việt Nam” cách hình thành một đường dây nóng để cầu cứu anh hùng nhanh hơn và nhiều hơn.

Bên phía chính quyền Việt Nam, một số lực lượng truyền thông dường như tỏ ra bức xúc với vở diễn. Trong một bài phân tích viết vào tháng 11 năm 2013, trang Võ Khánh Linh – một blog thuộc lực lượng truyền thông bênh vực chế độ – gọi Mạng lưới Blogger Việt Nam là “những Chí Phèo thế kỷ 21” (24).

(Chí Phèo là tên của một nhân vật văn chương nổi tiếng, kiếm sống bằng nghề đòi nợ thuê. Ông này thường gây sức ép với các nạn nhân bằng cách tự rạch mặt mình rồi nằm lăn ra, giãy giụa gào khóc để ăn vạ.)

 

6. Ghi chép lịch sử

Ngày 4 tháng 12 năm 2013, Phạm Đoan Trang đăng lên blog của mình một bài tổng hợp mang tên “Lich sử blog Việt – cập nhật đến 2013” (25). Kể từ đó, vào tháng 12 hằng năm, bà Trang đều bổ sung các diễn biến vừa xảy đến trong năm vào cuốn sử của mình. Đến nay, cuốn sử đã được bốn phần, tạm dừng ở năm 2016. Bà Trang có lẽ là người đối lập Việt Nam đầu tiên cố ghi lại lịch sử của toàn bộ phong trào, thay vì của riêng đoàn thể mà mình tham gia, bằng một nỗ lực thường niên.

Cuốn sử nhìn chung có cấu trúc đơn giản. Nó là một danh sách dài các mốc thời gian, gắn liền với sự kiện nổi bật xảy ra vào mốc thời gian đó. Các sự kiện không được phân loại, diễn biến của mỗi sự kiện không được tường thuật, và mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện cũng không được nêu. Nhìn chung, có thể xem cuốn sử như một danh sách các title báo liên quan đến các blog của phong trào đối lập Việt Nam, được sắp xếp theo trình tự thời gian.

Trong cuốn sử, có một thiếu sót mà chúng tôi cho là đáng lưu ý. Dù cuốn sử ghi lại các sự kiện từ năm 2013, nó tuyệt đối không nhắc đến tên Tập hợp Thanh niên Dân chủ, hay bất cứ sự kiện nào liên quan đến tổ chức đó. Ông Nguyễn Tiến Trung, người sáng lập của tổ chức này, chỉ được nhắc đến trong một gạch đầu dòng duy nhất, mô tả phiên tòa xét xử ông cùng ba cộng sự là Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long. Cần lưu ý rằng Tạp chí Phía trước của Tập hợp Thanh niên Dân chủ ban đầu cũng chạy trên nền blog, và blog của tờ báo này từng được cộng đồng đánh giá cao về chất lượng nội dung. Ông Nguyễn Tiến Trung sở hữu một trong những blog chính trị nổi tiếng nhất trong giai đoạn 2006 – 2009, và ông thường đăng các bài viết hoặc ảnh chụp hoạt động của mình lên blog cá nhân trước khi phổ biến chúng trên các trang khác. Như vậy, đây có thể xem như một phần quan trọng trong “Lịch sử blog Việt” đã bị xóa một cách cố tình.

Trước khi bắt tay vào chép sử, ngày 30 tháng 7 năm 2013, bà Trang cũng khẳng định rằng chuỗi sự kiện “trao Tuyên bố” của Mạng lưới Blogger Việt Nam, mà bà là đồng tổ chức, đánh dấu “lần đầu tiên giới blogger chính trị ở Việt Nam lên tiếng với quốc tế; hơn thế nữa, với tư cách một mạng lưới chứ không phải cá nhân” (26). Tuyên bố này bỏ qua một thực tế, rằng trước đó 7 năm, các “blogger chính trị” trong Tập hợp Thanh niên Dân chủ cũng đã thực hiện một chuyến viếng thăm tương tự tới nhiều tổ chức quốc tế và chính khách phương Tây, để trao những văn bản và lời đề nghị có tính chất tương tự.

Sau cùng, cũng cần lưu ý rằng cuốn “Lịch sử blog Việt” chỉ bao gồm những sự kiện liên quan đến các blog Việt Nam theo khuynh hướng chính trị đối lập, ủng hộ thể chế dân chủ và hoan nghênh sự can thiệp của phương Tây. Nó không ghi lại diễn biến liên quan đến các blog phi chính trị ở Việt Nam, hoặc những blog chính trị ủng hộ các khuynh hướng khác.

 

7. Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc

Ngày 13 tháng 11 năm 2013, với 184 phiếu thuận trên tổng số 192 phiếu, Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với tỉ lệ phiếu thuận cao nhất trong tổng số 14 nước thành viên mới (27). Trong khi đó, chính quyền của Việt Nam chưa hề có động thái nào để cho thấy họ “phải sửa đổi pháp luật để chứng minh cam kết tranh cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc”, như khẳng định trong “Tuyên bố của Mạng lưới Blogger Việt Nam” (5). Sau thắng lợi này, phía chính quyền tung ra một chiến dịch truyền thông rầm rộ, trong đó họ liên tục dùng cụm từ “Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc” để tuyên truyền cho “những tiến bộ của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền”, và để bác bỏ cáo buộc của các hội đoàn chính trị đối lập. Vì Mạng lưới Blogger Việt Nam đã liên tục nhắc đến Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trong một lượng lớn các bài viết và tuyên bố của mình, thậm chí viện dẫn danh tính của tổ chức này để phản đối từng phiên tòa xét xử những người đối lập ở Việt Nam (28), họ ít nhiều gây thất vọng, và đứng trước một áp lực lớn.

Ngày 5 tháng 12, ba tuần sau sự kiện trên, Mạng lưới Blogger Việt Nam ra một văn kiện mang tên “Thông báo của Mạng lưới Blogger Việt Nam về việc Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc” (29). Đầu bản “thông báo”, Mạng lưới Blogger Việt Nam thuật lại việc Việt Nam trúng cử trong tình trạng cuộc bầu cử được tiến hành theo “thể chức chọn 4 chỉ loại 1 trong 5 ứng viên của khu vực châu Á”, và Jordan rút tên khỏi danh sách ứng viên, khiến cả 4 ứng viên còn lại đều lọt vào. Tuy nhiên, bản “thông báo” không bình luận về số phiếu thuận cho Việt Nam, và cũng không đưa ra ý kiến về cơ chế sinh hoạt của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

Trong phần sau của bản “thông báo” có đoạn:

“Trong vị trí và vai trò của những công dân tự do và với quan niệm Việt Nam trở thành thành viên của UNHRC đồng nghĩa với “đất nước Việt Nam với tất cả hơn 90 triệu công dân Việt Nam” trở thành thành viên của UNHRC, Mạng Lưới Blogger Việt Nam (MLBVN) sẽ tham gia, đóng góp vào việc gìn giữ những giá trị nền tảng cao nhất trong việc đẩy mạnh và bảo vệ nhân quyền cũng như tôn trọng những điều khoản mà Việt Nam đã tự nguyện cam kết”.

Cụ thể, họ cho biết để “đẩy mạnh và bảo vệ nhân quyền”, họ sẽ “kêu gọi sự tham gia của mọi tầng lớp công dân Việt Nam” cùng làm bốn việc sau:

_ “Xuống đường công khai phổ biến các văn bản về nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết…”

_ “Công khai tổ chức những buổi trao đổi hoặc cổ súy nhân quyền dưới nhiều hình thức…”

_ “Cử đại diện đến các văn phòng của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nói riêng và tổ chức Liên Hiệp Quốc nói chung để đệ trình về tình hình nhân quyền tại Việt Nam và những đề nghị, yêu cầu cải tiến…”

_ “Phối hợp với nhiều tổ chức, cá nhân để xúc tiến xây dựng một cơ sở dữ liệu trực tuyến nhằm lưu trữ những vi phạm nhân quyền của Việt Nam…”

Như vậy, trong bốn việc mà họ kêu gọi “mọi tầng lớp công dân Việt Nam cùng làm” để “đẩy mạnh và bảo vệ nhân quyền”, có hai việc là hoạt động tuyên truyền, và hai việc là hoạt động cầu viện quốc tế.

Trong bản “thông báo”, họ không giải thích vì sao “90 triệu công dân Việt Nam” phải “trở thành thành viên” của một tổ chức quốc tế mà chính phủ nước này kí kết tham gia, mà không có một lựa chọn nào khác. Họ cũng không trích dẫn các văn bản khẳng định rằng Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc có thể kết nạp các cá nhân làm thành viên của mình, chứ không chỉ kết nạp các quốc gia.

Theo ý kiến riêng của chúng tôi, thì quan điểm rằng các “công dân tự do” phải gia nhập một tổ chức mà chính phủ gia nhập, hoặc phải “đẩy mạnh và bảo vệ” một chủ thuyết chính trị mà chính phủ tôn vinh, ngay cả khi lí tưởng đó mang tên “nhân quyền”, cũng sẽ khiến cho từ “tự do” bị thay đổi ý nghĩa.

 

8. “Phái đoàn dân sự Việt Nam” trước buổi UPR ngày 5 tháng 2 năm 2014

Ngày 15 tháng 12 năm 2013, Mạng lưới Blogger Việt Nam đăng một bản tường trình dài, thuật lại việc năm thành viên của họ, là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Hoàng Vi, Nguyễn Thảo Chi, Châu Văn Thi và Đào Trang Loan, đã bị cấm xuất cảnh và tịch thu hộ chiếu (30). Bản tưởng trình cho biết khi xảy ra vụ việc, họ đang “lên đường sang các nước Đông Nam Á nhằm thu xếp để vận động một số cơ quan quốc tế về nhân quyền hỗ trợ phát triển tình trạng nhân quyền tại Việt Nam”. Cả năm người bị chặn đều có thể được xem là thành viên và cộng tác viên của trang Dân Làm Báo. Quyết định này của chính quyền khiến cánh Dân Làm Báo trong Mạng lưới Blogger Việt Nam gần như mất hết khả năng hiện diện trong các hoạt động vận động ở nước ngoài.

Ngày 10 tháng 1 năm 2014, tại Hà Nội, 9 người hoạt động chính trị đã có buổi gặp chung với đại diện của một loạt các sứ quán, bao gồm EU, Đức, Thụy Điển, Úc, Hà Lan, Na Uy và Bỉ, để trao đổi trước thềm UPR. Theo lời tường thuật của Mạng lưới Blogger Việt Nam, 9 người này là đại diện của “một số nhóm hoạt động nhân quyền ở Việt Nam” (31). Các nhóm này bao gồm 6 tổ chức, là Mạng lưới Blogger Việt Nam, No-U Sài Gòn, No-U Hà Nội, Phật giáo Hòa hảo Truyền thống, Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam. Trong số này, thực ra Phật giáo Hòa hảo Truyền thống là một tổ chức tôn giáo, và hai nhóm No-U là hai mạng lưới biểu tình chống Trung Quốc. Việc một nửa số tổ chức tham gia không phải là nhóm hoạt động nhân quyền, nhưng không gây thắc mắc cho cả phía phương Tây lẫn dư luận cho thấy ở Việt Nam, có một ranh giới không rõ ràng giữa các tổ chức tôn giáo bị cấm và các cuộc biểu tình chống Trung Quốc với các hoạt động chính trị để cổ vũ nhân quyền.

Cần lưu ý rằng Tổng Thư ký Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam khi đó là ông Nguyễn Bắc Truyển, một tín đồ Phật giáo Hòa hảo. Tháng 2 năm 2014, ông Truyển bắt đầu trở thành tình nguyện viên của Văn phòng Công lý & Hòa bình của Dòng Chúa Cứu thế ở Sài Gòn, nơi bà Nguyễn Hoàng Vi của Dân Làm Báo có vai trò quan trọng. Mặt khác, Phật giáo Hòa hảo cũng có quan hệ tốt với bà Bùi Thị Minh Hằng, một gương mặt đối lập thường xuyên hiện diện trên trang Dân Làm Báo vào thời điểm đó, và có một cộng sự thân thiết là phóng viên trang này. Như vậy, có thể chính Dân Làm Báo đã mời Phật giáo Hòa hảo và Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam tham gia cuộc vận động trước thềm UPR, thông qua trung gian là ông Truyển, người đang nắm vai trò quan trọng ở cả hai tổ chức đó. Khả năng này cũng phù hợp với các diễn biến thời sự khác vào thời điểm đó: trong thực tế, hồi tháng 12 năm 2013, chính bà Bùi Thị Minh Hằng đã hỗ trợ ông Lý Văn Dũng đưa tin về vụ đàn áp tôn giáo mới của người H’mong, và kêu gọi dư luận quan tâm. Vào thời điểm đó, nếu không tính các hãng thông tấn có trụ sở ở nước ngoài, thì Dân Làm Báo là trang tin Việt Nam duy nhất phỏng vấn ông Dũng và bám sát các diễn biến của vụ việc.

Trong cuộc gặp này, hai ông Nguyễn Chí Tuyến và Vũ Sĩ Hoàng tham gia dưới danh nghĩa người đại diện của No-U Hà Nội và No-U Sài Gòn, dù trong các cuộc gặp sứ quán và hội thảo trước đó của chuỗi sự kiện vận động, cả hai ông đều tham dự dưới danh nghĩa thành viên Mạng lưới Blogger Việt Nam (32). Cũng cần lưu ý rằng trong số 9 đại biểu người Việt Nam tham gia cuộc gặp, chỉ có ông Huỳnh Anh Trí và ông Lý Văn Dũng không tham gia 5 tổ chức hình thành Mạng lưới Blogger Việt Nam. Trong đó, ông Huỳnh Anh Trí là một cựu tù nhân chính trị từng bị tra tấn, còn ông Lý Văn Dũng là một nạn nhân trong vụ đàn áp giáo phái mới của người H’mong, diễn ra trước đó chưa đầy một tháng. Trong cuộc gặp này, ông Trí và ông Dũng chỉ kể với phía phương Tây về những hành vi vi phạm nhân quyền mà chính quyền Việt Nam đã thực hiện với cá nhân họ hoặc với giáo phái của họ.

Ngày 12 tháng 1 năm 2014, Mạng lưới Blogger Việt Nam đăng thông báo rằng nhận lời mời của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về Nhân quyền (OHCHR), “phái đoàn vận động nhân quyền cho Việt Nam” sẽ bắt đầu chuyến thăm và làm việc tại Mỹ, Châu Âu và Úc từ ngày 12 tháng 1, để chuẩn bị cho buổi UPR của Việt Nam vào ngày 5 tháng 2 (33). Họ cho biết phái đoàn gồm “đại diện của các tổ chức VOICE, Mạng lưới Blogger Việt Nam, Dân Làm Báo, Con Đường Việt Nam, Phật Giáo Hòa Hảo Truyền thống, No-U Việt Nam, Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam, và thân nhân một số tù nhân chính trị”. Tuy nhiên, bản thông báo không bao gồm danh sách các cá nhân cụ thể trong phái đoàn. Thông báo cho biết phái đoàn sẽ làm việc với OHCHR, các cơ quan Liên hiệp quốc khác, các chính phủ phương Tây, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, và “cộng đồng người Việt Nam ở các nước”, để “cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ cho các tổ chức quốc tế và chính phủ nước ngoài” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Ngày 21 tháng 1, trong một bài tâm sự trên blog VOA, ông Trịnh Hội cho biết ông đang “bận bù đầu” vì vừa là người phát ngôn chính thức của phái đoàn, vừa là đại diện của VOICE trong đoàn (34). Trong bài, ông tỏ ra bất ngờ khi biết trong phái đoàn sẽ có bà Phạm Đoan Trang và ông Nguyễn Anh Tuấn:

“Thú thật, từ lúc bắt đầu công việc vận động hành lang vào giữa năm ngoái cho đến nay cho tiến trình UPR, có thể nói chính tôi cũng không ngờ là sẽ có một phái đoàn hùng hậu được thành lập bao gồm từng ấy người. Nào là Blogger Đoan Trang nổi tiếng với những bài blog trung thực, thẳng thắn. Cho đến đại diện của Mạng Lưới Blogger Việt Nam là anh Nguyễn Anh Tuấn, năm nay chỉ mới 23 tuổi, nhưng nghe anh trả lời phỏng vấn trên các báo, đài tôi tưởng Tuấn ít nhất cũng phải 43!”

Sự bất ngờ của ông Hội có lẽ đã được cường điệu, vì trong mọi cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Anh Tuấn, người phỏng vấn đều nêu rõ năm sinh của ông, và đề cập đến việc ông chính là “sinh viên tự thú” hồi năm 2011. Quan trọng hơn, như chúng tôi đã đề cập trong phần trên, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn và Trịnh Hữu Long đã làm việc cho VOICE từ đầu năm 2013, và liên hệ với VOICE từ trước đó. Trong một cuộc phỏng vấn bà Phạm Đoan Trang và ông Trịnh Hữu Long, được tiến hành ngay sau khi ông Tuấn về nước vào đầu năm 2016, hai người được phỏng vấn vô tình tiết lộ một thực tế rằng ông Tuấn đã ra nước ngoài từ ba năm trước, tức thời điểm đầu năm 2013 (35). Hiện nay, trong phần giới thiệu trên Facebook cá nhân của mình, Trịnh Hữu Long cũng khẳng định rằng ông chuyển đến Manila, Philippines, và làm việc cho VOICE từ năm 2013. Manila là nơi đặt văn phòng của VOICE khi đó.

(ảnh 26 – “Trên Facebook cá nhân, ông Trịnh Hữu Long khẳng định mình đã chuyển đến Manila, Philippines, và làm việc cho VOICE từ năm 2013”)

Trong bài tâm sự, ông Trịnh Hội cũng cho biết ông nghĩ trưởng phái đoàn lẽ ra không nên là ông, mà phải là ông Trần Văn Huỳnh – bố ông Trần Huỳnh Duy Thức, người tham gia phái đoàn để vận động cho trường hợp của con trai mình. Lí do, theo ông Hội, là vì ông Huỳnh nói tiếng Anh rất giỏi. Ông Hội viết:

“Với giọng đọc rõ, khi lên, khi xuống và đặc biệt hơn hết là rất ít bị “accent” như nhiều người ở tuổi bác, chỉ trong vòng 1 phút 44 giây, bác đã nói ra được tất cả những gì cần phải nói. Và những gì chúng ta có thể làm”.

Ngày 23 tháng 1, theo lời Mạng lưới Blogger Việt Nam tường thuật, thì “các bạn đại diện cho Mạng Lưới Blogger Việt Nam, No-U Việt Nam, Dân Làm Báo, Con Đường Việt Nam, Phật Giáo Hòa Hảo Truyền thống, Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam và VOICE” đã đến New York để gặp đại diện của OHCHR tại trụ sở Liên hợp quốc (36). Có bốn thành viên của phái đoàn tham gia cuộc gặp, là Trịnh Hội, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn và Ann Phạm. Cả bốn người đều là nhân viên của VOICE.

Cùng ngày, đoàn gặp ông Scott Busby, Thứ trưởng Bộ ngoại giao Mỹ đặc trách về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động.

Ngày 24 tháng 1, đoàn gặp ông Scott Flipse, Phó Giám đốc Chương trình Chính sách và Đông Á, đặc trách Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế (37). Trong cuộc gặp này, phái đoàn có thêm ông Trần Văn Huỳnh – bố ông Trần Huỳnh Duy Thức, và bà Nguyễn Thị Trâm – mẹ ông Lê Quốc Quân, cả hai đều là thân nhân của những người đang chịu án tù chính trị, chứ không phải là nhà hoạt động. Trong cuộc gặp này, Trịnh Hội và Ann Phạm được giới thiệu là đại diện cho VOICE, còn Phạm Đoan Trang Trang và Nguyễn Anh Tuấn được giới thiệu là thành viên Mạng lưới Blogger Việt Nam. Ngoài việc trình bày tình hình nhân quyền, phái đoàn cũng đề nghị phía Mỹ “biến những quan tâm và lên tiếng thành hành động cụ thể trong những thương thảo chính trị và thương mại với nhà nước Việt Nam” trong đợt đàm phán để gia nhập TPP của Việt Nam khi đó. Trong cùng bài tường thuật trên trang web của Mạng lưới Blogger Việt Nam, người tường thuật cho biết phái đoàn đã gặp ba dân biểu trong Ủy ban TPP của Hạ viện Mỹ.

Ngày 26 tháng 1, trang Dân Làm Báo đăng bài “Ngắn gọn về UPR” của Phạm Đoan Trang (38). Bà Trang trực tiếp gửi bài này cho Dân Làm Báo, trước khi đăng lại bài lên blog cá nhân của mình. Trong bài, bà giải thích bản chất, cơ chế hoạt động, các bên liên quan và nội dung kiểm điểm của một kỳ UPR. Bài viết này, cùng với bài ký tên ông Trịnh Hội vào ngày 5 tháng 5 năm 2013, là hai bài duy nhất cung cấp thông tin về cách vận hành UPR mà Internet Việt Nam từng có cho đến thời điểm đó.

Ngày 29 tháng 1, tại trụ sở chính của Hội đồng Châu Âu ở Brussels (Bỉ), ba thành viên của phái đoàn, là Phạm Đoan Trang, Trịnh Hội và Nguyễn Anh Tuấn đã có buổi thuyết trình và hỏi đáp với hai nhóm làm việc của Hội đồng, là Nhóm Làm việc về Nhân quyền và Nhóm Làm việc về Châu Á và Châu Úc (39). Đầu buổi thuyết trình, bà Trang tuyên bố rằng bà và hai thành viên còn lại là “đại diện cho khối xã hội dân sự độc lập, không bị nhà nước kiểm soát” ở Việt Nam”. Trong buổi thuyết trình, phái đoàn trình bày chi tiết những gì họ đã phản ánh và đề nghị trong bản Tuyên bố và các văn kiện khác của Mạng lưới Blogger Việt Nam. Trong đó, bà Trang tập trung phản ánh tình trạng lạm dụng “các điều luật mang tính trấn áp”, chẳng hạn như Luật Báo chí, hay những nội dung liên quan đến an ninh quốc gia trong Bộ Luật Hình sự như điều 79, 88 và 258. Ông Trịnh Hội trình bày các trường hợp cụ thể vừa bị phạt tù, việc chính quyền cấm những người hoạt động xuất cảnh, tấn công “các website độc lập” bằng biện pháp kĩ thuật và “đội ngũ dư luận viên, và việc người dân không được tiếp cận với luật sư trước phiên xét xử. Ngoài ra, ông cũng đề cập đến việc Việt Nam vẫn duy trì án tử hình, và vừa kết án tử hình 30 người trong cùng một ngày vì tội buôn ma túy. Sau cùng, ông Nguyễn Anh Tuấn đọc một danh sách dài các khuyến nghị mà phái đoàn ba blogger, đại diện cho 7 tổ chức cả chính trị lẫn tôn giáo, muốn gửi đến chính quyền Việt Nam.

Trong phần hỏi đáp, chỉ có đại diện của Ireland và Đức tỏ ra thật sự quan tâm đến những nội dung cụ thể mà “phái đoàn dân sự Việt Nam” trình bày. Trong đó, phía Ireland hỏi thêm về phương thức vận hành của truyền thông Việt Nam trong điều kiện bị cấm đoán, còn phía Đức hỏi thêm về Nghị định 72 mới được ban hành để tăng cường kiểm soát môi trường thông tin trên Internet. Phía Thụy Điển tỏ vẻ quan tâm, nhưng họ nghi ngờ khả năng chính phủ Việt Nam sẵn sàng thực thi các khuyến nghị mà họ nhận được trong phiên điều trần UPR. Khác với các nước trên, đại diện của Anh, Phần Lan, Italy và Hà Lan không đưa ra bất cứ trao đổi nào liên quan đến những nội dung cụ thể mà “phái đoàn dân sự Việt Nam” đã trình bày. Thay vào đó, họ hỏi về những vấn đề khác, như việc duy trì án tử hình, quyền cho người đồng tính, quyền của các nhóm thiểu số và yếu thế.

Trong phần trả lời cuối buổi, các thành viên “phái đoàn dân sự Việt Nam” cố gắng lái sự quan tâm của thính giả quay trở lại với những vấn đề mà họ đang đề cập. Để làm việc đó, họ tìm cách gán ghép, một cách hơi gượng ép, các câu chuyện về hoạt động chính trị đối lập của họ với những chủ đề mà thính giả đang thật sự quan tâm.

Chẳng hạn, bà Phạm Đoan Trang khẳng định rằng ở Việt Nam, quyền của người đồng tính không hề được tôn trọng, bằng chứng là “chính quyền còn có xu hướng dán cái nhãn ”gay”, ”lesbian” lên các nhà hoạt động nhân quyền để sỉ nhục họ, làm mất uy tín họ với cộng đồng”. Bà cũng khẳng định rằng sự cải thiện quyền lợi của người đồng tính chỉ là một luận điệu tuyên truyền mà phía chính quyền tung ra, chứ không có thật. Theo bà Trang, luận điệu tuyên truyền này tồn tại vì cộng đồng người đồng tính ở Việt Nam “chưa bao giờ đủ vai trò, đủ tiếng nói để Chính phủ phải xem đó như một mối đe dọa cho sự chính danh, quyền lực của họ”.

Tiếp đó, ông Nguyễn Anh Tuấn mượn câu chuyện về việc duy trì án tử hình ở Việt Nam để nói về chuyện sửa đổi Hiến pháp; rồi lại mượn chuyện sửa đổi Hiến pháp để nói về các kiến nghị đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, qui định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, và về khả năng phương Tây dùng Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc để can thiệp, nhằm sửa đổi luật pháp Việt Nam. Cuối cùng, trả lời câu hỏi liên quan đến quyền của các nhóm người thiểu số, yếu thế và dễ bị tổn thương ở Việt Nam, ông Tuấn qui cả ba nhóm người này về một số tập thể đang tham gia lực lượng đối lập chính trị ở Việt Nam, như các nhóm dân H’mong theo tôn giáo mới và các nhóm nông dân khiếu kiện tập thể. Cuối bài phát biểu dài, ông Tuấn trình bày giải pháp duy nhất của mình cho vấn đề “người thiểu số, yếu thế và dễ bị tổn thương” ở Việt Nam:

“Họ không hiểu nguồn gốc những khổ đau của họ. Họ thường nghĩ tất cả đều do số phận, chứ họ không nghĩ được rằng những khổ đau, bất hạnh ấy là xuất phát từ sự mất dân chủ, tự do trong một thể chế độc đảng lãnh đạo. Và nhiệm vụ của những nhà hoạt động vì nhân quyền, những người đấu tranh bảo vệ nhân quyền, sẽ là giúp đỡ cho những con người ấy, để họ hiểu được quyền của họ, để họ cất lên tiếng nói đấu tranh, giành lại tự do và nhân quyền cho mình”.

Ngày 4 tháng 2, một ngày trước phiên điều trần UPR của Việt Nam, “cộng đồng người Việt tị nạn” đổ xô đến Geneva, nơi phiên điều trần sắp được tổ chức. Tại đây, nhận lời mời từ hai tổ chức của người tị nạn gốc Việt là COSUNAM và Việt Tân, họ đến dự hội thảo mang tên “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc”, được tổ chức ở phòng họp số XXV bên trong trụ sở Liên hợp quốc (40). COSUNAM (Ủy ban Thụy Sĩ Việt Nam) được biết đến như một tổ chức thân hữu của Việt Tân, thường làm trung gian liên hệ giữa Việt Tân và chính giới phương tây (41), hoặc cùng Việt Tân tiến hành các chiến dịch vận động quốc tế (42). Ngày 5 tháng 2, khi phiên kiểm điểm UPR của Việt Nam diễn ra trong trụ sở Liên hợp quốc, những người tị nạn gốc Việt vừa đến dự hội thảo hôm trước liền tụ thành một cuộc biểu tình ở quảng trường đối diện trụ sở. Biểu tượng chính của cuộc biểu tình là lá cờ vàng ba sọc đỏ của chế độ Việt Nam Cộng hòa cũ.

28

Cuộc biểu tình ở Geneva, khi phiên kiểm điểm UPR của Việt Nam đang được tiến hành

Cũng trong ngày 5 tháng 2, ngay trước phiên UPR, đài RFA thực hiện một cuộc phỏng vấn mang tên “Cá nhân và NGO tác động đến UPR như thế nào”, với người trả lời là Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn (43). Theo RFA, cả hai ông Long và Tuấn đều là thành viên của nhóm vận động đang có mặt tại Geneva. Trong buổi phỏng vấn, ông Tuấn tiếp tục xưng là đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam, còn ông Long xưng là “nhà báo ở Việt Nam”. Vào thời điểm này, cả hai ông đều đang là nhân viên của VOICE, và ông Tuấn không dùng blog.

Lúc 2h30’ chiều, theo giờ Thụy Sĩ, phiên UPR của Việt Nam bắt đầu. “Phái đoàn dân sự Việt Nam”, lần này bao gồm ông Trịnh Hữu Long, cũng tham dự sự kiện. Trang Dân Làm Báo tường thuật trực tiếp buổi UPR thông qua một đại diện đến dự (44). Trong phần tường thuật trực tiếp của Dân Làm Báo, dưới mỗi diễn biến tóm lược của buổi họp, họ chèn thêm lời bình luận của một vài người sử dụng Facebook và blog, kể cả những người sử dụng ẩn danh.

Nhìn chung, trong toàn bộ phiên điều trần, chỉ có 6 nước đưa ra các khuyến nghị theo hướng mà “phái đoàn dân sự Việt Nam” mong muốn. Số này bao gồm Mỹ, Canada, Thụy Điển, Séc, Lithuania và Luxembourg.

Trong khi đó, đại diện phái đoàn Anh chỉ kể một số “quyền tự do bị hạn chế” một cách chung chung, và cho biết họ lo ngại về điều này, nhưng không đưa ra các khuyến nghị cụ thể.

Phái đoàn Đức chỉ đề nghị Việt Nam giảm án tử hình, trả tự do cho “các tù nhân bị giam giữ tùy tiện”, và thực hiện các cam kết cũ. Các điều luật cần thay đổi, và các vụ “giam giữ tùy tiện” cụ thể đều không được họ nêu ra.

Phái đoàn Myanmar đưa ra một loạt các lời khuyên về dân chủ hóa, nhưng họ cũng không đề cập đến bât cứ điều luật, bản án hoặc vụ vi phạm nhân quyền cụ thể nào. Lời khuyên của Myanmar bao gồm một vài hành động nặng tính bao cấp, như “tăng cường giáo dục về nhân quyền cho người dân và các cơ quan nhà nước”.

Phái đoàn Phần Lan “kiến nghị Việt Nam đảm bảo Nghị định 72 được thực hiện sao cho không hạn chế tự do cá nhân được bày tỏ chính kiến trên Internet”.

Nhìn chung, các phái đoàn khác đều phát biểu một cách ngoại giao – như “đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc cải thiện tình hình nhân quyền”, hoặc “chúc mừng Việt Nam trở thành thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc”.

Trước mọi câu hỏi và khuyến nghị mà các nước khác đưa ra, phái đoàn của chính phủ Việt Nam đều có chung một cách phản ứng. Họ đọc một diễn văn viết sẵn khá dài, liệt kê một loạt những cải cách lẻ tẻ mà họ vừa thực hiện để cải thiện vấn đề đang được nêu. Những cải cách đó thường không liên quan đến câu chuyện đang bàn. Chẳng hạn, trả lời các chất vấn về “tình trạng giam giữ bừa bãi” ở Việt Nam, họ cho biết “tình trạng giam giữ người phạm tội” đang được cải thiện sau khi họ “ban hành Nghị định bổ sung về chế độ ăn mặc, ở, y tế, dạy nghề cho các phạm nhân”, và “qui định phạm nhân được phép gặp người thân” trong Luật Thi hành án.

Quan trọng hơn, các đại diện của chính phủ Việt Nam khẳng định rằng việc họ “bắt giữ và xử lý các cá nhân xâm phạm an ninh quốc gia” là có cơ sở pháp lí, không vi phạm nhân quyền, và không mâu thuẫn với các văn kiện quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã kí. Họ khẳng định rằng “Việt Nam không có kiểm duyệt báo chí, xuất bản, Internet”, và Nghị định 72 được ban hành để bảo vệ môi trường Internet, chứ không hạn chế tự do ngôn luận.

Đại diện của các quốc gia khác không có bất cứ phản bác hay thắc mắc nào trước những câu trả lời trên từ phái đoàn của Chính phủ Việt Nam.

Ngay sau phiên UPR của Việt Nam, trả lời phỏng vấn BBC từ trong nước, ông Nguyễn Quang A cho biết quan điểm của ông (45):

“Tôi nghĩ rằng chắc chắn nó sẽ có tác động gây áp lực lên nhà cầm quyền Việt Nam… Nhưng những áp lực đấy có thực sự hữu hiệu để khiến nhà cầm quyền phải thay đổi chính sách liên quan đến nhân quyền thì tôi e rằng tính hiệu quả của nó là không nhiều.”

Ông cũng cho rằng qua việc Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao nhất, có thể thấy “bản thân những tổ chức đó cũng không thực sự được như tên gọi của nó”.

 

Chú thích:

(1) https://boxitvn.blogspot.com/2013/01/kien-nghi-ve-sua-oi-hien-phap-1992.html

(2) https://www.phandong.org/profile/ls-trinh-huu-long

(3) https://www.voatiengviet.com/a/upr-va-viet-nam/1654787.html

(4) http://danlambaovn.blogspot.com/2014/01/tu-sai-gon-ha-noi-en-washington-dc.html#.uuys2lq1i70

(5) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/07/tuyen-bo-cua-mang-luoi-blogger-viet-nam.html

(6) http://mangluoiblogger.blogspot.com/p/about-us.html

(7) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/07/ai-dien-cac-blogger-trao-tuyen-bo-258.html

(8) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/blogger-nguyen-inh-ha-bi-cong-hach-sach.html

(9) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/trao-oi-voi-sq-australia-ve-tinh-hinh.html

(10) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/tuong-thuat-buoi-gap-go-cua-ai-dien.html

(11) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/chieu-ha-noi-toi-sai-gon-thanh-vien.html

(12) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/tuong-thuat-buoi-cafe-258-cua-mang-luoi.html

(13) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/12/thong-bao-cua-mlbvn-ve-viec-ca-ha-noi.html

(14) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/12/blogger-ha-noi-tha-bong-bong-ky-niem.html

(15) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/07/ohchr-blogger-viet-nam-hay-len-tieng.html

(16) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/mang-luoi-blogger-viet-nam-tiep-xuc-voi.html

(17) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/mang-luoi-blogger-viet-nam-tiep-xuc-voi_10.html

(18) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/mang-luoi-blogger-viet-nam-tiep-xuc-voi_11.html

(19) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/mang-luoi-bloggers-viet-nam-gap-go-ai.html

(20) http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130806-viet-nam-don-mung-dai-dien-blogger-chuyen-tuyen-bo-258-ra-quoc-te-tro-ve

(21) http://dantri.com.vn/xa-hoi/le-cong-dinh-bi-tuyen-5-nam-tu-giam-1264232129.htm

(22) http://danlambaovn.blogspot.com/2013/11/le-cong-inh-anh-ang-nghi-gi.html

(23) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/mang-luoi-blogger-viet-nam-gap-go-lien.html

(24) http://vokhanhlinh98.blogspot.com/2013/11/nhung-chi-pheo-ky-21.html

(25) http://www.phamdoantrang.com/2013/12/lich-su-blog-viet-cap-nhat-nam-2013.html

(26) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/07/lan-au-tien-gioi-blogger-viet-nam-len.html

(27) http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/the-gioi/viet-nam-trung-cu-hoi-dong-nhan-quyen-1hq-voi-so-phieu-cao-nhat-a8756.html

(28) http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/10/tuyen-bo-cua-mang-luoi-blogger-viet-nam.html

(29) http://mangluoiblogger.blogspot.com/2013/11/thong-bao-cua-mang-luoi-blogger-viet.html

(30) http://mangluoiblogger.blogspot.dk/2013/12/thanh-vien-mang-luoi-blogger-bi-cam.html

(31) http://mangluoiblogger.blogspot.dk/2014/01/cac-nhom-nhan-quyen-van-ong-ngoai-giao.html

(32) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2013/09/130911_bloggers_eu_meeting

(33) http://mangluoiblogger.blogspot.dk/2014/01/thong-cao-bao-chi-cua-phai-oan-van-ong.html

(34) https://www.voatiengviet.com/a/tu-vietnam-sang-my/1834179.html

(35) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/a-young-activis-decides-to-return-to-vn-ml-02012016113330.html

(36) http://mangluoiblogger.blogspot.dk/2014/01/phai-oan-dan-su-oc-lap-van-ong-cho-nhan.html

(37) http://mangluoiblogger.blogspot.dk/2014/01/nhung-hoat-ong-cua-phai-oan-van-ong.html

(38) http://danlambaovn.blogspot.com/2014/01/ngan-gon-ve-upr.html#.UuSMImD700Y.facebook

(39) http://danlambaovn.blogspot.com/2014/02/buoi-thuyet-trinh-va-nhung-cau-hoi-ap.html

(40) http://congdongnguoiviettncsodw.blogspot.com/2014/02/quanh-ky-upr-2014-tai-geneve.html

(41) http://viettan.org/%C4%90ang-Viet-Tan-Tiep-Xuc-Voi-Chinh.html

(42) http://viettan.org/Cosunam-Viet-Tan-cung-24-chinh.html

(43) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/indiv-ngo-impc-upr-02052014071728.html

(44) http://danlambaovn.blogspot.com/2014/02/truc-tiep-phien-ieu-tran-upr-ve-tinh.html

(45) http://www.bbc.com/vietnamese/multimedia/2014/02/140205_nguyenquanga_upr

 


 

VIII. Những hoạt động vận động trước và sau phiên họp thông qua Báo cáo UPR của Việt Nam, ngày 20 tháng 6 năm 2014

Ngày 20 tháng 6 năm 2014, buổi họp để thông qua Báo cáo UPR của Việt Nam được tổ chức ở Geneva, Thụy Sĩ. Trong buổi họp này, chính phủ Việt Nam sẽ trả lời Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc về việc họ chấp nhận những khuyến nghị nào trong số 227 khuyến nghị mà họ đã nhận được hồi tháng 2. Đây là sự kiện để kết thúc phiên UPR năm 2014 của Việt Nam. Bỏ lại sau lưng hai thất bại liên tiếp hồi tháng 11 và tháng 2, những thất bại mà họ không bao giờ công nhận trên truyền thông, VOICE và bốn đoàn thể hợp thành Mạng lưới Blogger Việt Nam tiếp tục cuộc vận động quốc tế đang tiến hành dang dở. Cần lưu ý rằng lần này, họ đã quyết định mở rộng đợt vận động về cả số tổ chức tham gia liên kết lẫn thời gian. Chẳng hạn, dù phiên UPR năm 2014 của Việt Nam đã kết thúc vào ngày 20 tháng 6, “phái đoàn dân sự Việt Nam” vẫn tiếp tục thăm thêm hai nước châu Âu, để mở rộng quan hệ với các chính phủ phương Tây và các đoàn thể của người gốc Việt ở nước ngoài cho đến đầu tháng 7. Qua đó, có thể thấy lần này, họ không chỉ đơn thuần tìm cách tác động đến kết quả của kì UPR. Thay vào đó, họ tận dụng những ngày cuối cùng của cuộc vận động quốc tế trong kì UPR để mở rộng quan hệ và tầm ảnh hưởng của tổ chức mình, nhằm chuẩn bị phương tiện cho những hoạt động kế tiếp.

 

1. Năm thành viên của VOICE đến Canada để vận động

Ngày 7 tháng 4 năm 2014, năm thành viên của VOICE – gồm Trịnh Hội, Ann Phạm, Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn – ra trước Ủy ban Nhân quyền của Canada để điều trần về thực trạng nhân quyền ở Việt Nam (1). Buổi điều trần được website của Quốc hội Canada tường thuật trực tiếp. Trong sự kiện này, bà Trang và ông Tuấn xưng là đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam, còn ông Trịnh Hữu Long xưng là đại diện của Phong trào Con đường Việt Nam.

Trả lời phỏng vấn trước sự kiện, ông Long cho biết những nội dung mà từng người trong nhóm sẽ trình bày như sau:

“Blogger Trang sẽ trình bày vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí, và vấn đề kiểm duyệt tại Việt Nam. Blogger Tuấn sẽ phát biểu về các hoạt động của xã hội dân sự độc lập và những hạn chế trong quyền tự do lập hội tại Việt Nam. Long sẽ trình bày về sự tham gia của khối xã hội dân sự vào tiến trình UPR của Việt Nam và các hoạt động hậu UPR mà chúng tôi chuẩn bị thực hiện thời gian sắp tới. Anh Trịnh Hội và cô Ann Phạm sẽ nói về việc phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam và các vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, cung cấp một bức tranh tổng quát về nhân quyền tại Việt Nam.”

Có thể thấy chủ đề mà cả năm người này trình bày đều xoay quanh lĩnh vực xã hội dân sự, tức lĩnh vực mà VOICE phụ trách khi viết báo cáo UPR cùng bốn tổ chức bạn (2). Trong khi đó, nếu ông Long trình bày đúng lĩnh vực mà Phong trào Con đường Việt Nam phụ trách, ông phải nói về “tình trạng xét xử bất công và giam giữ tù nhân chính trị một cách khắc nghiệt tại Việt Nam”.

Ông Long cũng cho biết rằng sau sự kiện, nhóm vận động sẽ có cuộc gặp với cộng đồng người Canada gốc Việt, để kêu gọi họ giúp đỡ trong việc gây sức ép lên chính phủ Canada. Trả lời phóng viên, ông hé lô một mục đích quan trọng của đoàn vận động:

“Điều chúng tôi mong muốn là có thể quốc tế hóa các hoạt động nhân quyền ở Việt Nam hiện nay. Chúng ta biết nhân quyền  là khái niệm phổ quát trên toàn cầu, không phải là một khái niệm khu trú trong một lãnh thổ nhất định. Cho nên, chúng ta rất cần quốc tế hóa các hoạt động nhân quyền để một mặc tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế; mặt khác, qua các hoạt động này, chúng ta thắt chặt thêm sợi dây tình cảm và sự kết nối giữa người Việt trong nước và người Việt ở nước ngoài.”

“Ví dụ như chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ và tham gia tổ chức các buổi thảo luận nhân quyền, các buổi hội thảo về UPR ở Việt Nam và cũng sẽ kêu gọi các tổ chức quốc tế và các đại sứ quán nước ngoài ở Việt Nam tham gia vào trong các hoạt động này.”

Nói một cách dễ hiểu, thì các thành viên của VOICE muốn gắn chặt “các hoạt động nhân quyền ở Việt Nam” với sự tác động từ các chính phủ nước ngoài, và từ các đoàn thể của người nước ngoài gốc Việt, mà VOICE là một trong số đó.

Trước đó một ngày, hôm 6 tháng 4, VOICE đã tổ chức một cuộc gặp mặt giữa cộng đồng người gốc Việt ở Montreal với ông Trịnh Hội và “ba nhà hoạt động trẻ đến từ Việt Nam”, tức Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn (3). Ngày 13 tháng 4, tức Chủ nhật tuần kế tiếp, họ tổ chức một cuộc họp mặt có nội dung giống hệt ở Toronto. Theo lời tường thuật của VOICE Canada, thì trong hai buổi họp mặt, các đại diện của VOICE đã “giải thích những hiểu lầm” giữa mình và cộng đồng người gốc Việt ở nước ngoài. Sau đó, họ trình bày một danh sách dài những hoạt động mà VOICE đã thực hiện, kể từ thời điểm thành lập được tuyên bố là năm 1997. Khi nói về các hoạt động của VOICE trong phiên UPR 2014, họ khẳng định rằng “tại UPR, những nhà dân chủ trong nước có thể đối thoại ngang hàng với những đại diện của tổ chức của chính quyền Cộng sản Việt Nam”. Họ cũng khẳng định rằng bộ ba Trang, Long và Tuấn đã đi nước ngoài “qua sự hỗ trợ của VOICE”. Sau khi trình bày, VOICE đề nghị cộng đồng giúp đỡ họ bằng tiền tài trợ và nhân sự tình nguyện. Bài tường thuật của VOICE Canada về sự kiện này, mang tên “Tri thức: Chìa khóa để giải thoát sự sợ hãi và vô cảm”, cũng kết thúc bằng một lời đề nghị “hỗ trợ về tài lực và nhân lực”, kèm theo thông tin để liên lạc và chuyển khoản.

Qua việc cả năm người nán lại Canada ít nhất một tuần sau buổi điều trần trước Thượng viện, có thể thấy vào thời điểm đó, việc mở rộng tầm ảnh hưởng của VOICE trong cộng đồng người gốc Việt ở nước ngoài đã được họ coi trọng không kém so với việc tác động đến chính giới phương Tây.

 

2. “15 tổ chức dân sự độc lập” trình bức thư ngỏ ký chung

Hơn một tháng sau chuỗi sự kiện của VOICE ở Canada, đường lối “quốc tế hóa các hoạt động nhân quyền” của ông Long được một sự kiện trong nước minh họa một cách xuất sắc. Ngày 20 tháng 5 năm 2014, tại văn phòng của Liên minh Châu Âu ở Hà Nội, Liên minh châu Âu đã phối hợp với Đại Sứ quán Mỹ, Australia và Canada để tổ chức một hội thảo mang tên “UPR: Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế”. Trong danh sách khách mời, có cả “đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam, Diễn đàn Xã hội Dân sự, Hội Phụ nữ Nhân quyền và VOICE” (4). Trong đó, Diễn đàn Xã hội Dân sự được thành lập vào ngày 23 tháng 9 năm 2013 bởi ông Nguyễn Quang A – cựu Viện trưởng Viện IDS, nhân vật quan trọng trong các cuộc vận động kí kiến nghị tập thể của trang Bauxite Việt Nam, và tác giả của biểu tượng No-U được dùng bởi các mạng lưới biểu tình chống Trung Quốc. Hội Phụ nữ Nhân quyền được thành lập vào ngày 15 tháng 11 năm 2013 bởi một ban vận động (5), trong đó hai bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Nguyễn Hoàng Vi giữ vai trò quan trọng (dù sau này, bà Huỳnh Thục Vi trở thành người quản lí chính của tổ chức, và bà Quỳnh rút khỏi hội sau những xích mích). Ngoài ra, theo bài tường thuật của ông Nguyễn Hồ Nhật Thành về diễn biến hội thảo, trong hội thảo còn có đại diện của Hội Bầu bí Tương thân, một đoàn thể được thành lập vào ngày 11 tháng 12 năm 2013 để quyên tiền, nhằm hỗ trợ tài chính cho các cựu tù chính trị, những người khiếu kiện nhiều năm vì có tranh chấp đất đai với chính quyền, và gia đình của những người đó (6). Theo chúng tôi được biết, thì Hội Bầu bí Tương thân là một tổ chức con của Hội Anh em Dân chủ, do ông Nguyễn Văn Đài – người từng giới thiệu Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn với ông Trịnh Hội – thành lập vào ngày 24 tháng 4 năm 2013. Người kí tên chính bên dưới thông báo thành lập Hội Bầu bí Tương thân cũng là bà Lê Thị Công Nhân, một cộng sự lâu năm của ông Đài, từng bị kết án tù cùng ông hồi năm 2007.

Qua ảnh chụp và lời tường thuật, có thể thấy những gương mặt đối lập xuất hiện trong buổi hội thảo bao gồm ông Nguyễn Quang A (đại diện cho Diễn đàn Xã hội Dân sự), bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (đại diện cho Mạng lưới Blogger Việt Nam), bà Trần Thị Nga (một người khiếu kiện nhiều năm vì có tranh chấp đất đai với chính quyền, đại diện cho Hội Phụ nữ Nhân quyền), ông Ngô Duy Quyền (chồng bà Lê Thị Công Nhân, đại diện cho Hội Bầu bí Tương thân), và ông Nguyễn Hồ Nhật Thành. Trong buổi hội thảo này, ông Thành đại diện cho “15 tổ chức dân sự độc lập Việt Nam” để trao thư chung cho đại diện của EU, Mỹ, Canada, Australia, Indonesia, Thụy Điển, Hà Lan, Thụy Sĩ. Trong thư, họ đề nghị các nước này giám sát 10 đầu việc mà chính phủ Việt Nam phải thực hiện để “cải thiện tình trạng nhân quyền tại Việt Nam” (7).

Ông Nguyễn Hồ Nhật Thành cũng là một trong những người có tên trong danh sách “phái đoàn dân sự Việt Nam” đến dự buổi UPR ngày 5 tháng 2, nhưng bị cấm xuất cảnh nên không thể có mặt.

Trong bài tường thuật, ông Nguyễn Hồ Nhật Thành cũng cho biết rằng ban tổ chức hội thảo không chỉ mời những đoàn thể chính trị đối lập, mà còn mời các NGO hoạt động trên những lĩnh vực khác ở Việt Nam, chẳng hạn như bình đẳng giới.

Khi viết về buổi hội thảo trên trang Dân Làm Báo, bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh cho biết bà “không thấy sự có mặt của đại diện cơ quan chính phủ, đại diện bộ ngoại giao nào”, dù những người này đều được mời đến dự.

Trong phần phát biểu của mình tại hội thảo, bà Quỳnh đại diện cho Mạng lưới Blogger Việt Nam để “đưa ra nhận xét về việc thực hiện quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam”. Chủ đề phát biểu này trùng với lĩnh vực mà Dân Làm Báo phụ trách trong phần phân công viết Báo cáo UPR (2).

Nguyễn Hồ Nhật Thành và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tại buổi hội thảo

Nguyễn Hồ Nhật Thành và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tại buổi hội thảo

Nhìn chung, buổi hội thảo đã đem lại một thắng lợi truyền thông có tính tạm thời cho các hội đoàn chính trị đối lập tham gia nó. Lần đầu tiên, một loạt các hội đoàn đối lập Việt Nam được mời đến dự một hội thảo do nhiều nước phương Tây đồng tổ chức, ngay tại thủ đô Hà Nội, mà không gặp nhiều cản trở từ phía chính quyền Việt Nam. Không khí tự do mà phía phương Tây dành cho các gương mặt đối lập đến dự hội thảo, sự vắng mặt của chính quyền Việt Nam trong sự kiện, và việc “15 tổ chức dân sự độc lập Việt Nam” cùng kí một bức thư chung gửi đến giới chức các nước, tất cả đều là những dấu hiệu lạc quan. Chúng dường như đang chứng minh rằng chủ trương “quốc tế hóa các hoạt động nhân quyền” của ông Trịnh Hữu Long đã hoạt động một cách rất hiệu quả.

 

3. Phiên họp thông qua báo cáo UPR của Việt Nam, ngày 20 tháng 6 năm 2014

Ngày 19 tháng 6 năm 2014, một lần nữa, “phái đoàn dân sự độc lập Việt Nam” có mặt tại Geneva để dự một phiên họp UPR (8). Lần này, số “tổ chức tham gia chiến dịch” được lên đến 10, bao gồm:

_ Diễn đàn Xã hội Dân sự

_ Hiệp hội Đoàn kết Công nông Việt Nam

_ Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam

_ Hội Anh em Dân chủ

_ Hội Bầu bí Tương thân

_ No-U FC Hà Nội

_ No-U FC Sài Gòn

_ Phật giáo Hòa Hảo Miền Tây (Nam Việt Nam)

_ Phong trào Con đường Việt Nam

_ VOICE

Trong số này, “No-U FC Hà Nội” và “No-U FC Sài Gòn” không phải là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền, mà là hai đội bóng đá được thành lập bởi mạng lưới người biểu tình chống Trung Quốc lấy tên No-U. Họ lấy cớ đá bóng để gặp nhau hằng tuần, tuyển thêm thành viên, và chăng các biểu ngữ biểu tình ở sân bóng để chụp ảnh. Nếu bị chính quyền ngăn cản, họ sẽ phát biểu trên truyền thông rằng chính quyền Việt Nam ngăn cấm người dân gặp nhau để đá bóng, qua đó tố cáo hiện trạng xâm phạm quyền tự do lập hội, tự do hội họp ở Việt Nam.

Hiệp hội Đoàn kết Công nông Việt Nam do ông Đoàn Huy Chương thành lập vào năm 2006. Ngày 25 tháng 2 năm 2008, ông Đoàn Huy Chương và ba thành viên khác của Hiệp hội bị xử tù. Theo một tuyên bố của Đảng Dân chủ Nhân dân sau vụ việc đó, thì cả bốn người vừa bị kết án đều là đảng viên Đảng Dân chủ Nhân dân (9). Vì ông Nguyễn Bắc Truyển – Tổng Thư ký Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam, tín đồ đạo Cao Đài, đồng sáng lập viên Hội Anh em Dân chủ và tình nguyện viên mới của Ủy ban Công lý & Hòa bình từ hồi tháng 2  – cũng là một trong những người sáng lập Đảng Dân chủ Nhân dân (10), có thể Hiệp hội Đoàn kết Công nông Việt Nam tham gia cuộc vận động này cũng do ông Truyển kết nối. Đây là một khả năng hợp lí, vì Hiệp hội Đoàn kết Công nông Việt Nam thường xuyên ra tuyên bố mỗi lần ông Truyển bị bắt hoặc gây khó dễ, dù họ không nêu quan hệ giữa ông Truyển và tổ chức này.

Cần lưu ý rằng lần này, danh sách “10 tổ chức tham gia chiến dịch” không bao gồm Mạng lưới Blogger Việt nam, Văn phòng Công lý & Hòa bình thuộc Dòng Chúa Cứu thế Sài Gòn và Dân Làm Báo. Lí do của sự vắng mặt này không được người trong cuộc tiết lộ. Tuy nhiên, có thể thấy rằng sự vắng mặt này chỉ là trên danh nghĩa. Ông Phạm Lê Vương Các, một trong bốn thành viên của phái đoàn lần này, là một cây bút của Dân Làm Báo, và đang có quan hệ với bà Nguyễn Hoàng Vi.

Ba thành viên còn lại của đoàn là ông Nguyễn Quang A, ông Trịnh Hữu Long và bà Nguyễn Thị Vi Hạnh. Bà Hạnh, một người tị nạn gốc Việt ở Mỹ, là người đại diện của VOICE. Bà Hạnh cũng là người giữ số điện thoại và hộp thư liên hệ chung của phái đoàn, dù bà không có tên tuổi hay thành tích hoạt động, và chỉ đơn thuần là một nhân viên của VOICE (8). Chi tiết này một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của VOICE trong toàn bộ chiến dịch UPR – điều chúng ta đã thấy qua bài viết phát động chiến dịch ký tên Trịnh Hội vào ngày 5 tháng 5 năm 2013, qua việc ông Trịnh Hội làm trưởng đoàn hồi tháng 2, hay qua việc Phạm Đoan Trang và Trịnh Hữu Long là hai người phát biểu đường hướng và những việc cần làm trong chiến dịch.

Trả lời phỏng vấn đài RFA trước cuộc họp, ông Long cho biết lần này, họ sẽ tiếp tục sử dụng “cách làm của chuyến đi  UPR hồi tháng hai vừa rồi” (11). Cụ thể, họ “đã thu thập các thông tin về những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam cũng như các chứng cứ kèm theo”, và “sẽ cung cấp các thông tin này cho các cơ quan Liên Hiệp Quốc cũng như các chính phủ ở nước ngoài để họ tiếp tục gây sức ép”. Long cũng cho biết ông đã chuẩn bị một bài phát biểu dài 2 phút, tập trung vào việc “nêu bật lên các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng mà Việt Nam đã tiến hành trong thời gian vừa qua,đặc biệt là kể từ sau khi Việt Nam tham dự phiên điều trần ngày 5 tháng 2”.

Trong cuộc phỏng vấn, Long mô tả buổi hội thảo về nhân quyền mà EU tổ chức ở Hà Nội hồi tháng 5, cùng bức thư ngỏ mà “15 tổ chức dân sự đôc lập” ký chung, như một phần của “hàng loạt các chương trình, kế hoạch nhằm tiếp tục tham gia tiến trình UPR và thúc đẩy chính phủ tôn trọng các cam kết UPR” mà họ đã thực hiện.

Ngoài ra, Long cho biết cuộc họp ngày 20 tháng 6, khép lại phiên UPR năm 2014 của Việt Nam, không phải là điểm kết thúc lộ trình của đoàn. Ông cho biết đoàn sẽ tiếp tục công du châu Âu trong vòng 2 tuần kế tiếp:

“Trong vòng hai tuần tới thì chúng tôi sẽ dành một tuần ở Thụy Sĩ để gặp các cơ quan của Liên Hiệp Quốc cũng như là phái bộ ngoại giao của các tổ chưc quốc tế. Sau đó chúng tôi đến Bỉ để gặp cơ quan ngoại giao của liên minh châu Âu.

Tiếp đến là chúng tôi sẽ đến Ba Lan và Cộng Hòa Czech để gặp các chính phủ của các nước này để thúc đẩy họ quan tâm hơn nữa đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam và tham gia nhiều hơn nữa tiến trình UPR để đặt chính phủ Việt Nam trước sức ép cần thiết nhằm cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam”.

Hôm sau, ngày 20 tháng 6, trả lời phỏng vấn khi kết thúc buổi họp, ông Nguyễn Quang A cho biết kết quả “nhìn chung rất thuận lợi cho phía Việt Nam” (12). Theo lời kể của ông, trưởng đoàn của chính phủ Việt Nam đọc một báo cáo dài, “hùng hồn”, “nghe rất là hay”, để nêu lên những cam kết của họ về nhân quyền và hứa hẹn tiếp tục đối thoại. Trong số các nước phương Tây tham dự cuộc họp, không có nước nào phát biểu đáp lại báo cáo này, trừ Mỹ. Số quốc gia phát biểu còn lại đều là các nước châu Phi, Nam Á, hoặc “bạn bè ASEAN”. Ông A cho biết những nước này “đánh giá rất cao” bản báo cáo của Việt Nam, và “đều chúc mừng Việt Nam đã chấp nhận những kiến nghị của họ”. Bản báo cáo của chính phủ Việt Nam cho biết họ chấp nhập 182/227 khuyến nghị, nhưng không cho biết những khuyến nghị cụ thể nào bị từ chối.

Khi được đề nghị đánh giá về buổi họp, ông A phát biểu như sau:

“Tôi nghĩ bản thân cơ chế UPR là một cơ chế tốt, hoạt động của UPR  cũng là điều tốt hơn là không không có nhưng còn nhiều khiếm khuyết. Việc Việt Nam thông qua báo cáo trong ngày hôm nay một cách khá là suôn sẻ thì tôi nghĩ cũng giống như là nhiều các nước khác đó là chúng ta đừng đặt kỳ vọng quá nhiều vào cái hoạt động nhân quyền cũng như cơ chế UPR này.Đây là điều tốt hơn là không có nhưng mà nó chỉ là một phần rất là nhỏ. Phần chính vẫn là càng ngày càng nhiều người dân, càng ngày càng nhiều tổ chức xã hội dân sự ở trong nước và phần hỗ trợ của bên ngoài mới là vai trò quan trọng. Cái chính vẫn là trong nước”.

Trả lời phỏng vấn RFI, ông Nguyễn Quang A mô tả chi tiết hơn về sự tham gia của các tổ chức dân sự từ Việt Nam trong buổi họp (13):

” Trong các tổ chức xã hội dân sự từ Việt Nam đến, có Hội dân số, kế hoạch hóa gia đình ca ngợi việc « kế hoạch hóa dân số » đang rất tốt, bảo đảm được rất nhiều quyền. Cũng có đại diện một hội nữa của xã hội dân sự Việt Nam (ISEE/Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường), bảo vệ cho tiếng nói của những người đồng tính phát biểu khá là tốt, cũng khen một số tiến bộ, nhưng cũng cho biết luật Hôn nhân gia đình vừa rồi vẫn không được ghi nhận (không công nhận hôn nhân giữa những người đồng tính – ndr)… Đoàn của chúng tôi, đại diện cho hơn 10 tổ chức xã hội dân sự, rất đáng tiếc là vì xếp ở quá sau, nên hết giờ, không còn thời gian, nên không được phát biểu”.

Ông A cũng cho biết ông Trịnh Hữu Long là người phụ trách đọc bài phát biểu của đoàn ông.

Nhận định về kết quả của buổi họp, ông A đánh giá rằng 45 kiến nghị mà phái đoàn của chính phủ Việt Nam bác bỏ là “những kiến nghị cốt lõi nhất về vấn đề nhân quyền”. Cụ thể, “đó là những vấn đề đa nguyên, đa đảng, về thả tù nhân chính trị, về quyền tự do ngôn luận, vấn đề bỏ điều 79, bỏ điều 88, điều 258”. Trong cuộc phỏng vấn, ông A cho biết ông coi 45 kiến nghị này là “cành chính và thân của cái cây nhân quyền”, còn 182 kiến nghị mà Việt Nam chấp nhận thì chỉ như “cành phụ và lá”.

Ngoài ra, ông lưu ý dù tuyên bố rằng sẽ phê chuẩn Công ước Chống Tra tấn vào dịp cuối năm, họ lại từ chối ký nghị định thư đính kèm Công ước đó. Như vậy, họ sẽ không phải chấp nhận những phán xét của các tổ chức quốc tế về việc vi phạm Công ước trong tương lai.

Về mục tiêu, lịch trình và ưu tiên của đoàn, ông nói thêm:

“Mục tiêu đầu tiên là vận động quốc tế, các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội dân sự của các nước khác, cũng như là các đoàn ngoại giao ở đây để họ biết rõ hơn, kỹ hơn về tình hình nhân quyền ở Việt Nam”.

“Ở tại Genève, chúng tôi còn làm việc đến ngày 25/06… Chúng tôi nghĩ rằng hoạt động ở bên ngoài cuộc họp chính mới là chuyện quan trọng”.

Một ngày trước buổi họp, để chuẩn bị dư luận cho kết quả sắp tới, ông Trịnh Hữu Long có bài viết “UPR: Hay và dở”, được đăng lại trên blog của bà Phạm Đoan Trang (14). Trong bài, ông đánh giá rằng “thực tế không như kì vọng”, vì “thay vì đặt ra các câu hỏi hóc búa để chất vấn nhau, các nước cùng “băng đảng độc tài” lại tỏ ra đoàn kết”. Tuy vậy, theo ông Long, cơ chế này vẫn hữu ích, vì “dù sao, cũng phải nói rằng nếu không có UPR, khối dân sự độc lập của chúng ta đã không bao giờ có cơ hội được đến một diễn đàn quốc tế như vậy”. Ông nhận định:

“Điều quan trọng nhất là, UPR mở ra nhiều cơ hội chưa từng có trong quá khứ cho khối xã hội dân sự của một nước đối thoại với cộng đồng quốc tế. UPR cũng tạo ra một mặt trận, hay nói đúng hơn, một sân chơi, để các nhà hoạt động, các tổ chức dân sự ở mỗi nước tham gia mạnh mẽ vào công cuộc bảo vệ nhân quyền và hoạch định chính sách ở nước mình”.

Như vậy, vào những ngày cuối cùng của cuộc vận động xoay quanh phiên UPR năm 2014 của Việt Nam, những người trong “phái đoàn dân sự độc lập” đã đồng thanh phát biểu rằng kết quả của phiên UPR không quan trọng, điều quan trọng là tận dụng UPR để phát triển các phong trào và tổ chức.

Đúng như dự kiến, trong hai tuần lễ sau buổi họp khép lại phiên UPR năm 2014 của Việt Nam, “phái đoàn dân sự độc lập” tiếp tục công du một loạt các nước châu Âu. Ngày 29 tháng 6, ông Nguyễn Quang A tham gia một cuộc biểu tình chống Trung Quốc kéo dài 3 giờ ở Ba Lan, nơi “300 đến 400 người” cùng mặc áo phông in biểu tượng No-U do ông thiết kế (15). Hôm sau, ngày 1 tháng 7, ông cùng ba thành viên còn lại trong đoàn trở thành nhân vật chính trong một buổi tọa đàm với cộng đồng người gốc Việt tại Prague, do nhóm Văn Lang tổ chức (16). Theo thông báo của ban tổ chức, buổi hội thảo này nhằm giúp cộng đồng “hiểu rõ hơn về phong trào xã hội dân sự đang lớn mạnh trong nước, những hướng đi, sự phát triển, cũng như các trở ngại của họ trong điều kiện đặc thù của Việt Nam”. Buổi hội thảo được tổ chức trùng với dịp kỉ niệm 25 năm ngày các nhóm đối lập Tiệp Khắc, đứng đầu là Vaclav Havel, kêu gọi kí tên vào kiến nghị 7 điểm đòi dân chủ hóa Tiệp Khắc. Cách chọn ngày của ban tổ chức có tính biểu tượng cao, vì ông Nguyễn Quang A là người đứng đầu nhiều phong trào kí kiến nghị tập thể đòi dân chủ hóa, hoặc đòi thay đổi chính sách ở Việt Nam.

Ông Nguyễn Quang A trong cuộc biểu tình hôm 29 tháng 6 ở Ba Lan

Ông Nguyễn Quang A trong cuộc biểu tình hôm 29 tháng 6 ở Ba Lan

 

Chú thích:

(1) http://www.vietnamhumanrights.net/website/VOA_040714.htm

(2) https://www.danluan.org/tin-tuc/20140127/vu-dong-ha-tu-sai-gon-ha-noi-den-washington-dc-geneva-con-duong-nhan-quyen

(3) https://www.facebook.com/notes/thinh-m-le/tri-th%E1%BB%A9c-ch%C3%ACa-kh%C3%B3a-%C4%91%E1%BB%83-gi%E1%BA%A3i-tho%C3%A1t-s%E1%BB%B1-s%E1%BB%A3-h%C3%A3i-v%C3%A0-v%C3%B4-c%E1%BA%A3m/626291080784485/

(4) http://danlambaovn.blogspot.com/2014/05/co-che-kiem-iem-inh-ky-pho-quat-upr-co.html

(5) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-women-for-human-rights-ta-11272013235245.html

(6) http://viettan.org/Thong-bao-thanh-lap-Hoi-Bau-Bi.html

(7) http://danlambaovn.blogspot.com/2014/05/tom-tat-noi-dung-buoi-hoi-thao-nhan.html?m=1

(8) http://www.vietnamhumanrights.net/website/140619_UPRVN.htm

(9) http://www.vietnamexodus.info/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=3476

(10) https://hung-viet.org/a3421/dang-dan-chu-nhan-dan

(11) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/channhupv-huulong-06202014122008.html

(12) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/interview-nguyenquanga-cnhu-06232014102642.html

(13) http://vi.rfi.fr/viet-nam/20140621-cam-ket-upr-viet-nam-tu-choi-nhieu-khuyen-nghi-nhan-quyen-co-ban

(14) http://www.phamdoantrang.com/2014/06/upr-hay-va-do.html

(15) http://vietinfo.eu/viet-nam-que-huong/hoi-chuyen-tien-si-nguyen-quang-a.html

(16) http://vietinfo.eu/cd-tai-sec/toa-dam-ve-nhan-quyen-cung-ts-nguyen-quang-a-tai-praha.html

 


 

IX. Những cơ hội mới cho Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn

Có thể thấy rằng sau thất bại truyền thông vào tháng 11 năm 2013  – khi Việt Nam “trúng cử” Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc), và vào tháng 2 năm 2014 – khi phiên chất vấn UPR diễn biến theo chiều hướng có lợi cho chính quyền Việt Nam, các nhóm vận động đã nhanh chóng thay đổi chiến lược của mình. Họ tiếp tục tập trung vận động sự can thiệp của phương Tây và của các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, lần này, họ không còn nhắm đến một chiến thắng chính trị cụ thể, nhằm tạo ra thay đổi về mặt luật lệ và chính sách ở Việt Nam. Thay vào đó, như phát biểu của ông Trịnh Hữu Long, họ tìm cách “quốc tế hóa các hoạt động nhân quyền”, nghĩa là gắn chặt hoạt động của các hội đoàn và phong trào chính trị đối lập ở Việt Nam với khẩu hiệu nhân quyền, và với những nguồn lực hỗ trợ từ quốc tế cho khẩu hiệu đó. Chiến lược này có thể sẽ thất bại trong việc thay đổi hệ thống pháp luật và chính trị ở Việt Nam, như thực tế đã diễn ra, nhưng nó sẽ thành công trong việc giúp các hội đoàn và nhân vật đối lập tạm thời tồn tại được về mặt truyền thông và tài chính. Bởi vào thời điểm đó, khi chính quyền Việt Nam đang vướng vào cuộc đàm phán để gia nhập TPP, họ không dễ gì tận diệt những tổ chức đối lập vừa tỏ ra thân mật với phương Tây, vừa nắn toàn bộ hoạt động của mình theo trò chơi, luật chơi và những lịch trình cụ thể mà phương Tây đề nghị.

Chiến lược sinh tồn này đã chứng tỏ rằng nó hiệu quả, trước hết với những người phát biểu nó đầu tiên, là bộ ba Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn. Trong hai năm 2014 và 2015, cả những may mắn về mặt tài chính và sự nghiệp từ phía phương Tây đã liên tục đến với cả ba người đó.

Tháng 4 năm 2014, đúng lúc sắp hết hạn visa và phải về nước, Phạm Đoan Trang bất ngờ nhận được một học bổng nghiên cứu dài 10 tháng từ đại học Nam California (USC) (1). Theo lời giới thiệu trên trang Luật khoa Tạp chí mà bà làm biên tập viên sau này, thì đó là một học bổng để nghiên cứu về báo chí và chính trị (2).

Vào thời điểm bà Trang nhận được học bổng, sự kiện này chỉ được đưa tin bằng hai bài viết. Bài đầu tiên được viết bởi ông Trần Đông Đức, vào ngày 26 tháng 4 năm 2014, đăng trên RFA (3).  Trong bài, ông Đức viết rằng “theo diễn tả của Đoan Trang thì những người như cô bị cô lập khống chế đến cảnh túng đói (theo nghĩa đen) để làm tủi nhục về mặt ý chí”.

Tuy nhiên, sau đó, bà Trang được xuất ngoại:

“Thế rồi Đoan Trang đến Mỹ và Âu châu, cô đi một chuyến đi vòng quanh các nước có nền văn minh văn hóa ứng xử bậc nhất thế giới. Đây cũng là một sự trải nghiệm quan trọng nhất trong đời của cô”.

Sau đó, ông Trần Đông Đức dành nhiều dòng để diễn tả nỗi lo của ông, rằng nếu về nước vào lúc này, bộ ba Trang, Long, Tuấn có thể “bị bắt, bị cấm xuất cảnh”, hoặc “bắt đi bộ đội để hành hạ vài năm cho xong đời trai bay nhảy”. Ông Đức cho biết ông “cảm thấy áy náy”, và định liên lạc với ông Trịnh Hội để “tìm giải pháp”, nhưng chưa tìm ra:

“Không lẽ xúi cô ở lại tị nạn chính trị thì lại là đường đột quá! Mà biết cô về lâm vào hoàn cảnh như Nguyễn Tiến Trung thì quả là đau xót”.

Tuy nhiên, theo lời ông Đức, đúng vào thời điểm nguy cấp này, học bổng của USC đã đến với bà Trang như một may mắn lớn:

“May quá! Đoan Trang là một cây bút rất tài hoa được giới ngoại giao phương Tây chú ý. Cô cũng là một trong những blogger hiếm hoi viết bằng tiếng Anh của Việt Nam. Tin cô phải về nước “trồng trà ở Thái Nguyên” có lẽ làm áy náy giới ngoại giao Mỹ, Đức, Thuỵ Sĩ khiến họ không thể nào yên tâm… Không thể nào để một nhân vật lung linh như thế này rơi vào bàn tay thô bạo bọn chúng để làm tù nhân lương tâm cho được. Thế rồi, bằng sự ngưỡng mộ và quan tâm rất nhân văn nào đó, họ mời cô ở lại làm fellowship (một dạng nghiên cứu) cho một trường đại học ở Nam California.

Được ở lại làm fellowship cho một trường đại học Hoa Kỳ là một chứng chỉ, một thành tích quá lớn trong một chuyến “vượt biên” tình cờ. Như thế quá vinh dự rồi!

Hiện nay có nhiều nhóm dư luận viên tỏ ra bức bối khi nhận được thông tin này. Có lẽ trường hợp của ký giả Đoan Trang sẽ làm bọn họ trở nên nhỏ bé khi muốn kích động và bêu rếu các nhà đấu tranh dân chủ. Ở vị trí hàn lâm, Đoan Trang sẽ làm cho “cả đội chúng nó” không còn tư thế gì nữa”.

Trong phần còn lại của bài, ông Đức dành nhiều dòng để trầm trồ kinh ngạc về chỗ ở mới của bà Trang:

“Nhưng chưa hết! Chỗ ở mới của Đoan Trang mới làm mọi người choáng váng. Thì ra đây là một toà biệt thự có tên là Villa Aurora (độc giả tự google) để biết sự biệt đãi dành cho ký giả Đoan Trang quan trọng tới cỡ nào.

Villa Aurora sang trọng như là một tòa lâu đài, nơi hội tụ của những nghệ sỹ tài hoa trên thế giới”.

“Khách cư ngụ của Villa Aurora toàn là những nhân vật danh giá đến từ Âu Châu… Cư ngụ tại Villa Aurora là một thứ đẳng cấp khiến những người ở Mỹ lâu năm như tôi khám phá ra cũng phải kinh ngạc. Tinh thần tôn trọng tài hoa của Âu Mỹ thật là vượt tầm tưởng tượng của những người tự cho là ở Mỹ rất lâu và biết về nước Mỹ rất nhiều”.

Theo một số tài liệu trên Internet, ông Trần Đông Đức là một đảng viên Việt Tân lâu năm. Ông cũng là chủ bút của báo Người Việt ấn bản Đông Bắc.

Hai ngày sau, hôm 28 tháng 4 năm 2014, bài viết thứ hai tường thuật chuyện bà Trang nhận học bổng xuất hiện trên trang BBC (5). Tác giả lần này là ông Vũ Quí Hạo Nhiên, cựu Tổng Thư ký của tòa soạn báo Người Việt tại California. Nối tiếp ông Trần Đông Đức, ông Vũ Quí Hạo Nhiên tiếp tục dành phần đầu bài viết của mình để ca ngợi Villa Aurora, đồng thời kể tên một loạt nhân vật nổi tiếng từng sống ở đó. Sau đó, ông tiết lộ lý do của bài viết, rằng chỗ ở mới của bà Đoan Trang “đùng một cái trở thành chủ đề bàn tán trên mạng”, và trong những lời bàn tán có sự dèm pha:

“Người Việt Nam mình vốn nghèo, sống khổ quen rồi, tự nhiên thấy một người mới hôm trước vật chất còn chật vật bỗng hôm sau sống trong một ngôi biệt thự như vậy — dù chỉ là khách mời dài hạn, cũng đủ làm người ta bàn tán.

Và bên trong những lời bàn tán ấy tất nhiên là có sự dèm pha. Rằng đấu tranh để được hưởng. Rằng ham tiền đô la. Những lời quen thuộc”.

Trong phần còn lại của bài, ông Nhiên giải thích về “fellowship” trong văn hóa phương Tây, để bác bỏ những “dèm pha” trong dư luận, và đi đến kết luận như sau:

“Mời Đoan Trang đến sống và làm việc tùy ý chính là một cách thể hiện sự tự do học thuật, tự do tư tưởng của quỹ Villa Aurora cũng như của đại học USC”.

Cần lưu ý rằng vào thời điểm đó, cả Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn đều không viết bài để đưa tin về việc nhận học bổng này, dù cả ba đều có năng lực viết, và hai người trong số đó từng hành nghề phóng viên. Hai ông Trần Đông Đức và Vũ Quí Hạo Nhiên cũng không đăng bài trên tờ Người Việt của mình, mà gửi bài cho RFA và BBC tiếng Việt, là hai trang tin có nhiều người trong nước theo dõi.

Ngày 5 tháng 11 năm 2014, tờ Luật khoa Tạp chí chính thức ra mắt tại địa chỉ luatkhoa.org. Trong một thư tòa soạn được viết sau đó tròn hai năm, Trịnh Hữu Long cho biết đây là một dự án mà ông đã ấp ủ cùng bà Phạm Đoan Trang từ khi cả hai còn ở trong nước. Trong thư, ông cho biết vào tháng 8 năm 2014, ông “đang là thực tập sinh tại Uỷ ban Luật gia Quốc tế ở Bangkok sau một thời gian làm nhân viên của VOICE ở Philippines”. Khi đó, việc thành lập tờ tạp chí mới bắt đầu chín muồi nhờ “cái gật đầu của luật sư Trần Vi và luật gia Trương Tự Minh”, có lẽ là hai người mà ông liên hệ được khi làm việc cho VOICE, hoặc trong quá trình làm việc tại Bangkok. Trong đó, bà Trần Vi, thường kí tên Vi Katerina Tran dưới các bài viết, là một người Mỹ gốc Việt có bằng tiến sĩ Luật, mở văn phòng luật ở San Jose (7). Theo lời giới thiệu trên website Luật khoa, thì Trương Tự Minh “tốt nghiệp Đại học Luật – Kinh tế TP.HCM năm 2014 và hiện nay là Điều phối viên dự án của tổ chức Phong trào Con đường Việt Nam” (8). Trương Tự Minh có lẽ là một cái tên giả, thuộc về một thành viên  ẩn danh của Luật khoa Tạp chí và Con đường Việt Nam vì chúng tôi không tìm thấy cái tên này ở bất cứ đâu trên Internet, trừ những bài đăng trên Luật khoa Tạp chí. Trương Tự Minh đã ngừng viết và dịch bài trên Luật khoa Tạp chí từ tháng 12 năm 2015. Trần Vi cũng đã ngừng viết bài từ tháng 3 năm 2016. Tuy nhiên, hiện nay, cả hai người này vẫn tiếp tục có tên trong Ban Biên tập của Luật khoa Tạp chí, với vị trí Biên tập viên. Bà Phạm Đoan Trang là một biên tập viên khác. Theo thư tòa soạn hồi tháng 11 năm 2016, thì Ban Biên tập Luật khoa khi đó có 5 người, nên có thể còn một thành viên ẩn danh nữa.

Luật khoa Tạp chí được tuyên bố là một cơ quan phi lợi nhuận. Tuy nhiên, tờ báo này vẫn trả nhuận bút cho các tác giả có bài đăng và trả lương cho Ban Biên tập. Theo một thông báo tuyển dụng đăng ngày 1 tháng 5 năm 2017, lương của Phó Tổng biên tập là 600 USD. Mức lương này không bao gồm nhuận bút cho các bài viết. Trong lúc giữ chức Tổng Biên tập Luật khoa Tạp chí, ông Trịnh Hữu Long vẫn tiếp tục làm việc cho VOICE đến năm 2016.

Cuối năm 2015, ông Nguyễn Anh Tuấn có ba tháng làm thực tập viên tại văn phòng của ông Chris Hayes, dân biểu Australia. Trong một bài viết dài có tựa đề “Vai trò của người Việt hải ngoại trong cuộc tranh đấu cho nhân quyền ở Việt Nam”, đăng ngày 12 tháng 12 năm 2015, ông Nguyễn Văn Thân, một luật sư ở Sydney, có đề cập đến trường hợp của ông Tuấn (10). Ông Thân viết:

“Chúng ta có thể vận động với Tổng Công Đoàn Úc ACTU để đưa những người có khả năng lãnh đạo nghiệp đoàn sang Úc làm internship học hỏi kinh nghiệm. Ví dụ như hiện nay có anh Nguyễn Anh Tuấn là một thành viên của VOICE đang làm internship với Dân Biểu Chris Hayes. Công việc của anh gồm có theo ông Hayes ra vào Quốc Hội Liên Bang và làm quen với hệ thống quyền lực và hàng lang lập pháp của Úc. Trong tương lai, hy vọng là anh sẽ có cơ hội chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm quý báu này với nhiều người trong nước về tiến trình thực thi dân chủ mà trong đó mọi người dân bình thường hiểu được phương cách vận hành của các cơ chế quyền lực”.

Ông Nguyễn Văn Thân là cựu Chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự do Australia, chi nhánh New South Wales. Nhắc lại, Cộng đồng Người Việt Tự do Australia cũng chính là tổ chức có nhiều đảng viên Việt Tân nắm các vai trò cấp cao, và có sáng lập viên là ông Đoàn Việt Trung, người đang giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quảng trị của VOICE vào thời điểm hiện tại.

Theo chúng tôi được biết, thì ông Nguyễn Anh Tuấn vẫn là nhân viên của VOICE cho đến thời điểm hiện nay.

 

Chú thích:

(1) http://ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=14462:blogger-doan-trang-v-vi-t-nam-b-b-t-th-m-v-n-ngu-i-vi-t&catid=65:phong-s&Itemid=301

(2) http://luatkhoa.info/gioi-thieu-luat-khoa-tap-chi/

(3) http://www.rfa.org/vietnamese/news/blog/reprter-doan-trang-at-usc-04262014072132.html

(4) http://www.tintuchangngayonline.com/2016/03/mang-luoi-am-muu-lua-doi-viet-tan-sbtn.html

(5) http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2014/04/140428_vuquyhaonhien_comments_doantrang_fellowship

(6) http://luatkhoa.org/2016/11/thu-toa-soan-luat-khoa-tap-chi-tron-2-tuoi/

(7) https://www.linkedin.com/in/vi-katerina-katie-tran-b159265

(8) http://luatkhoa.info/gioi-thieu-luat-khoa-tap-chi/

(9) http://luatkhoa.info/2017/05/luat-khoa-tuyen-pho-tong-bien-tap/

(10) http://vietnamese.org.au/vca/?p=278

 


 

X. Các “học bổng xã hội dân sự”

Từ năm 2012 đến nay, VOICE đã liên tục cung cấp các “học bổng về xã hội dân sự” cho những người đối lập Việt Nam trẻ tuổi sống ở trong nước. Theo lời giới thiệu trên website của VOICE, đây là một hoạt động thường niên để thực hiện sứ mệnh của tổ chức này, là “phát triển xã hội dân sự Việt Nam nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người”. Trong các khóa học này, ngoài việc được đào tạo về tiếng Anh, kỹ năng bảo mật, kỹ năng truyền thông, kỹ năng tổ chức, học viên sẽ có cơ hội được đi thăm “các cơ quan chính phủ như Thượng viện và Hạ viện của Philippines”, “tòa soạn của các cơ quan truyền thông”, “văn phòng của các NGO lớn”…, và đi du lịch.

Mọi khóa học mà VOICE cung cấp đều được tổ chức ở Philippines. Để tham gia các khóa học này, những người đối lập trong nước phải tìm cách xuất cảnh sao cho không bị chính quyền để ý và ngăn cản, cũng như sẵn sàng đối mặt với các động thái của cơ quan an ninh khi về nước. Thêm vào đó, phương thức này cũng cho phép Việt Nam cử người tham gia các khóa học, để tìm hiểu danh tính và hoạt động của các học viên.  Bất chấp những rủi ro an ninh này, cho đến thời điểm hiện tại, VOICE vẫn giữ nguyên chủ trương đưa người ra nước ngoài, và không phổ biến miễn phí bất cứ phần nào trong chương trình đào tạo của mình qua Internet.

 

1. “ Chương trình Thực tập Ngắn hạn năm 2013”

Năm 2015, website Sự Thật Tân Hiệp Phát tung ra hai ảnh chụp liên quan đến “Chương trình Thực tập Ngắn hạn năm 2013” của VOICE (1). Trong số đó, một bức chụp lại bản giới thiệu nội dung chương trình, còn bức kia chụp lại danh sách các học viên tham gia “khóa thực tập”. Hai bức ảnh cũng cho biết các tập thể và cá nhân đã giới thiệu mỗi học viên cho VOICE.

Bản giới thiệu về Chương trình Thực tập Ngắn hạn năm 2013 của VOICE

Bản giới thiệu về Chương trình Thực tập Ngắn hạn năm 2013 của VOICE

Danh sách học viên của khóa thực tập

Danh sách học viên của khóa thực tập

Nhìn vào hai bức ảnh, có thể thấy cả năm đoàn thể đứng đằng sau hoạt động của Mạng lưới Blogger Việt Nam – bao gồm VOICE, Dân Làm Báo, No-U, Con đường Việt Nam và Dòng Chúa Cứu thế Sài Gòn – đều đứng đầu danh sách các đoàn thể giới thiệu người cho khóa học.

Ảnh cũng khẳng định rằng Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Trịnh Anh Tuấn vừa tham gia khóa học, vừa giới thiệu thêm cho VOICE một số học viên. Như vậy, bộ ba Trang, Long, Tuấn đã có mặt ở Philippines chí ít từ tháng 9 năm 2013, và phải nộp hồ sơ cá nhân cho VOICE từ trước đó. Vì thế, việc ông Trịnh Hội tỏ ra bất ngờ khi gặp ông Nguyễn Anh Tuấn hồi tháng 1 năm 2014 ở Thái Lan (2) là không thành thật.

Ngoài ra, hai bức ảnh cũng cho thấy chính ông Nguyễn Bắc Truyển đã làm trung gian để liên kết Phật giáo Hòa Hảo và Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo với các hoạt động của Mạng lưới Blogger Việt Nam, như giả thuyết mà chúng tôi đặt ra trong mục trước.

Theo hai bức ảnh, “Chương trình Thực tập Ngắn hạn năm 2013” diễn ra từ ngày 24 tháng 9 đến ngày 4 tháng 10. Các học viên tham gia khóa học đều là thành viên của các tổ chức chính trị, tôn giáo mà chính quyền Việt Nam coi là đối lập, hoặc người thân của các nhân vật đối lập, chứ không phải là người hoạt động bình thường trong lĩnh vực xã hội dân sự. Họ được đề nghị cung cấp thông tin về năng lực bảo mật điện tử của mình. Mọi học viên đều phải được giới thiệu bởi một tổ chức hoặc cá nhân mà VOICE cho là đáng tin cậy.

Ngày 7 tháng 10 năm 2013, RFA đăng tải bài phỏng vấn mang tên “Xã hội dân sự có đe dọa chế độ?” (3). Trong bài, họ phỏng vấn ông Bùi Tuấn Lâm, một học viên vừa trở về từ “Chương trình Thực tập Ngắn hạn năm 2013”. Ông Lâm cho biết vào đêm 6 tháng 10, ông và các học viên khác bị tạm giữ ở sân bay sau khi về nước. Ông mô tả quá trình đối chất với cơ quan điều tra như sau:

“Họ hỏi rất là nhiều mà bây giờ em cũng chẳng nhớ họ hỏi gì. Chỉ một điều còn nhớ là họ hỏi những chuyện vô lý. Chẳng hạn như, họ hỏi về lớp học, bao nhiêu người, ai tổ chức, có biết là đằng sau lớp học đó là thế lực thù địch, rồi đảng Việt Tân, những tổ chức lợi dụng đánh phá nhà nước….em trả lời là những chuyện ấy em không quan tâm, chuyện em quan tâm là đây là một lớp học tốt về xã hội dân sự, mà xã hội dân sự nước mình yếu, nước họ mạnh thì mình phải học hỏi, mở mang kiến thức, thế thì sao lại cấm tôi!”

Theo thông tin mà chúng tôi có được vào thời điểm sự kiện diễn ra, thì khác với ông Lâm, một số học viên khác, như ông Trương Văn Minh Nhật, tỏ ra bị chấn động tinh thần sau khi bị tạm giữ.

Ngày 10 tháng 10, ông Lâm tiếp tục trả lời BBC trong một bài phỏng vấn mang tên “Bị bắt vì dự khóa học dân sự?” (4). Trong bài, ông cho biết ông và các học viên khác “đã tìm đến khóa học về “Xã hội Dân sự ở Philippines” thông qua lời giới thiệu trên mạng xã hội của tổ chức Asian Bridge Philippines – một tổ chức phi chính phủ của Hàn Quốc có văn phòng tại Philippines”. Tuyên bố này của ông Lâm tự mâu thuẫn với lời ông trong cuộc phỏng vấn vào ngày 6, trong đó ông cho biết ông được mời tham gia khóa học bởi Asian Bridge Philippines. Mặt khác, cả hai tuyên bố của ông đều không lí giải được vì sao một khóa học về “Xã hội Dân sự ở Philippines” lại chỉ mời người Việt Nam, hoặc chỉ được người Việt Nam đăng ký.

Trước đó, ngày 8 tháng 10, Asian Bridge Philippines đăng trên trang Facebook của họ một thông cáo báo chí mô tả nội dung khóa học của họ, đồng thời “kêu gọi chính quyền Việt Nam tôn trọng các quyền cơ bản của các thực tập sinh” (5). Thông cáo này lập tức được dịch sang tiếng Việt bởi Hoàng Triết, thành viên Con đường Việt Nam (6). Ngày 9 tháng 10, trang Facebook của Asian Bridge Philippines tiếp tục đăng tải một lá thư của ông Laurent Meilan, quyền đại diện Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về Nhân quyền (OHCHR) khu vực Đông Nam Á (7). Trong thư, ông Meilan cảm ơn Asian Bridge Philippines về việc đã cho ông cơ hội gặp gỡ nhóm thính giả người Việt Nam trong buổi nói chuyện mà họ tổ chức. Trong cuộc phỏng vấn ông Lâm vào ngày 10, BBC nhắc đến lá thư này một cách có phần nhấn mạnh.

Theo lời giới thiệu của ông Lâm, thì Asian Bridge Philippines là một chi nhánh của Asian Bridge, một NGO đặt trụ sở tại Hàn Quốc (4). Tuy nhiên, khi tìm kiếm thông tin về Asian Bridge trên Internet, chúng tôi không tìm thấy thông tin khẳng định sự tồn tại của bất cứ chi nhánh Asian Bridge nào khác, ngoài chi nhánh Philippines. Hiện nay, website chính của tổ chức này tại địa chỉ www.asianbridge.asia đã ngừng hoạt động. Blog của Asian Bridge India (hasianbridgeindia.blogspot.com) chỉ có 6 bài đăng vào năm 2009, một bài đăng năm 2010, một bài năm 2011, và không có bài đăng mới nào từ năm 2011 đến nay. Ngay cả trang Facebook của Asian Bridge Korea (facebook.com/AsianBridgeForBetterWorld) cũng đã ngừng đăng bài mới từ tháng 12 năm 2015. Tuy nhiên, trang Facebook của Asian Bridge Philippines (facebook.com/asianbridgephilippines) vẫn đang hoạt động.

Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết tổ chức Asian Bridge có mối quan hệ chặt chẽ với một doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực du lịch mang tên Good Travel. Cụ thể, Good Travel Philippines được lập ra bởi Asia Bridge Philippines, và hai tổ chức này có cùng địa chỉ trụ sở (8)(9). Người sáng lập và CEO của Good Travel Korea là ông Na Hyo-woo, Giám đốc Điều hành của Good Travel Korea (10). Trên trang Facebook của mình, ông Na cũng cho biết ông từng sống ở Philippines. Chúng tôi không tìm thấy thông tin về hoạt động của một chi nhánh Good Travel nào khác, ngoài chi nhánh Philippines và Hàn Quốc. Khi đặt những chi tiết trên cùng nhau, chúng cho thấy Asian Bridge Philippines có khả năng là chi nhánh Asian Bridge quan trọng nhất.

Theo lời giới thiệu trên website của Good Travel Philippines, công ty này thúc đẩy khái niệm “voluntourism”, theo đó những người đi du lịch sẽ trang trải chi phí của chuyến đi bằng cách tham gia các hoạt động “chia sẻ, phục vụ, học hỏi, truyền cảm hứng và đón nhận cảm hứng” (8). Nói một cách dễ hiểu, doanh nghiệp xã hội này dùng khách du lịch để thực hiện các hoạt động thiện nguyện hoặc hoạt động dân sự mang tính phong trào, đồng thời dùng các hoạt động dân sự, hoạt động phong trào để cung cấp nơi ăn, chốn ở và hoạt động giải trí cho khách du lịch. Bằng chiến lược này, công ty vừa tiết kiệm được một lượng lớn chi phí và công sức để chăm lo khách du lịch, vừa được tiếng trong các hoạt động thiện nguyện và phong trào, lại vừa được hưởng những ưu đãi gắn liền với tư cách “doanh nghiệp xã hội”. Tuy nhiên, phương thức này sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng những khóa “thực tập” mà họ phối hợp với VOICE để cung cấp.

Nhưng dù sao đi nữa, vào tháng 10 năm 2013, những tuyên bố và vận động từ phía Asian Bridge Philippines vẫn mang lại cho VOICE, tổ chức nhiều scandal, một thắng lợi truyền thông đáng giá. Asian Bridge được nhắc đi nhắc lại, vào mọi dịp có thể, bởi các học viên tham gia “chương trình thực tập” và các thành viên của VOICE. Chẳng hạn, khi cơn bão Haiyan quét qua Philippines, ông Châu Văn Thi, một học viên hồi tháng 10, lập tức viết thư kêu gọi quyên góp tiền gửi Asian Bridge Philippines để họ thực hiện cứu trợ (11). Trong đợt cứu trợ, ông Trịnh Hội cho biết VOICE cũng phối hợp hành động cùng Asian Bridge Philippines. Ngoài ra, ngày 18 tháng 10, ông Hội còn mượn chuyện cái chết của ông Võ Nguyên Giáp, một vị tướng được yêu thích ở Việt Nam, để viết bài ca ngợi các học viên đã tham gia “chương trình thực tập” (12). Trong bài, ông Hội cho biết ông không quan tâm đến chuyện tướng Giáp, mà chỉ quan tâm đến “thế hệ trẻ Việt Nam”. Sau đó, ông nêu tên các học viên vừa trở về từ Philippines, và ca ngợi họ như những anh hùng của thế hệ trẻ. Để chứng minh quan điểm của mình, ông Hội trích dẫn lá thư của ông Laurent Meillan:

“…Trong một lá thư của Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc được đăng trên trang nhà của tổ chức phi chính phủ (NGO) Asian Bridge Philippines, ông Laurent Meillan, Quyền Trưởng Văn Phòng Khu Vực Đông Nam Á, đã nhấn mạnh:

“Tôi viết thư này để cảm ơn Asian Bridge Philippines đã cho tôi cơ hội được trò chuyện với nhóm thực tập sinh Việt Nam của các bạn vào tuần trước… Đó quả thật vừa là một niềm vui, vừa là một cơ hội hiếm hoi để tôi có thể gặp gỡ những người trẻ tuổi, thông minh và đáng cảm phục đến thế từ Việt Nam – những người khát khao tìm hiểu về thế giới quanh họ và về những công ước nhân quyền quốc tế mà Nhà nước Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn…”

Thì ra tôi không phải là người duy nhất cảm phục họ. Người dân Philippines đã lên tiếng. Văn phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc cũng đã lên tiếng. Biết đâu trong tháng tới khi Việt Nam xin ngồi vào Hội Đồng Nhân Quyền ở Geneva, điều này sẽ làm cho những nhà lãnh đạo Cộng sản ở Hà Nội nhức đầu, mệt óc?”

 

2. Học bổng dài hạn về xã hội dân sự

Theo một bài đăng trên website của VOICE vào đầu tháng 5 năm 2017, thì hiện nay tổ chức này cung cấp hai chương trình đào tạo, là một học bổng ngắn hạn kéo dài 2 tuần và một học bổng dài hạn kéo dài 6 tháng (13). Tháng 8 năm 2016, VOICE lần đầu tiên tuyên bố rằng mình đang tổ chức các chương trình đào tạo, và công khai đăng thông báo tuyển sinh. Đây là một diễn biến chưa có tiền lệ, vì trước đó, chưa có tổ chức chính trị đối lập nào ở Việt Nam công khai đăng thông báo tuyển sinh cho một khóa đào tạo ở nước ngoài. Bản thân VOICE cũng chưa từng công khai nhận trách nhiệm về các hoạt động đào tạo của mình, thay vì thế, họ để tổ chức đối tác là Asian Bridge Philippines làm điều đó.

Hiện nay, các thông tin về học bổng xã hội dân sự năm 2016 trên website của VOICE đều đã bị xóa bỏ (14). Dưới dây là ảnh mà chúng tôi chụp lại được từ thông báo tuyển sinh năm 2016 của VOICE, được trang Facebook của Con đường Việt Nam đăng lại (15). Ảnh cho biết nội dung đào tạo mà học bổng dài 6 tháng này cung cấp, và những cơ quan phối hợp với VOICE trong chương trình.

Một đoạn trong thông báo tuyển sinh cho ‘Học bổng Xã hội Dân sự VOICE 2016

Một đoạn trong thông báo tuyển sinh cho ‘Học bổng Xã hội Dân sự VOICE 2016

Bản thông báo tuyển sinh cũng cho biết học viên sẽ được lĩnh 350 USD tiền sinh hoạt phí mỗi tháng.

Diễn biến chưa có tiền lệ này khơi dậy những phản ứng mạnh mẽ từ phía chính quyền Việt Nam. Trong thời gian VOICE tiến hành tuyển sinh, các blog và trang Facebook thuộc hệ thống tuyên truyền của chính quyền đã tung ra nhiều bài viết kêu gọi giới trẻ Việt Nam “cảnh giác” với khóa học. Hầu hết các bài đều đưa dẫn chứng để khẳng định rằng VOICE là một tổ chức trực thuộc đảng VIệt Tân, và các khóa đào tạo mà VOICE tổ chức là để tuyển và đào tạo người cho đảng này.

 

3. Chất lượng đào tạo

Một nguồn tin khả tín của chúng tôi khẳng định rằng các khóa đào tạo dài 6 tháng của VOICE có vấn đề về chất lượng. Theo lời kể của vị này, một số buổi học được tiến hành theo phương thức “mọi người tự đào tạo cho nhau”, thay vì có giảng viên đứng lớp. Cụ thể, các thành viên của VOICE – thường là Trịnh Hữu Long hoặc Nguyễn Anh Tuấn – và các học viên tham gia khóa học sẽ đứng lên trước lớp để “chia sẻ” kinh nghiệm hoặc hiểu biết của bản thân. Để sắp xếp các buổi học có giảng viên chính qui, VOICE đã thỏa thuận với một số trường đại học của Philippines để cho sinh viên vào “học chui”, ngồi lẫn với các sinh viên chính thức trong lớp. Theo lời kể, vì tính chất không chính thức này, học viên “thích học thì học, không thích học thì ngồi chơi trong giờ, không ai kiểm tra”. Có những học viên học lại nhiều lần để được lĩnh 350 USD tiền sinh hoạt phí mỗi tháng. Nguồn tin cũng cho biết có một lượng không nhỏ người nhận học bổng không phải là người tham gia các hội nhóm, phong trào chính trị và dân sự ở Việt Nam, mà chỉ là “con cháu, họ hàng của các nhà hoạt động”.

Website của VOICE có đăng lại ba bài “chia sẻ” của các học viên từng tham gia khóa đào tạo. Phân tích các bài chia sẻ này, chúng tôi thấy lời than phiền của nguồn tin về chất lượng đào tạo của “Học bổng VOICE” là có cơ sở.

Cụ thể, trong bài “Chia sẻ: Tôi là một nhà hoạt động về môi trường”, một học viên cho biết cô đến với khóa đào tạo 6 tháng để “có được chiếc chìa khóa cho bản thân về vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu, nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam” (16). Cô cho biết trong các môn học, cô đặc biệt yêu thích lới Luật pháp. Học viên này mô tả những gì mà mình học được trong lớp Luật như sau:

“Lớp luật giúp cho tôi có thể hiểu và vẽ ra “Bức tranh toàn cảnh của xã hội Việt Nam hiện tại và tương lai”. Hiểu thế nào là một thể chế độc tài, cách vận hành của chính quyền cũng như Đảng Cộng sản Việt Nam, Tự do, Dân chủ, Pháp quyền…những khái niệm vốn không dễ dàng gì có cơ hội để hiểu tường tận khi ở Việt Nam. Qua đó, tôi có thể thấy rõ hơn bước đường mà tôi sẽ đi.

Tôi đã luôn khao khát một Việt Nam với nền dân chủ và bộ máy hoạt động giống như Mỹ, có đa nguyên đa đảng và tam quyền phân lập. Có như vậy con người mới được cởi trói và thoát khỏi những giáo điều bảo thủ”.

Trong phần còn lại của bài, người viết không thể hiện rằng cô có bất cứ một hiểu biết gì về những nguyên tắc vận hành của một hệ thống luật pháp, hay cách sử dụng luật pháp để hoạt động trong lĩnh vực môi trường mà cô theo đuổi. Tuy nhiên, cô tiếp tục ca ngợi tự do, dân chủ, xã hội dân sự, và gọi hoạt động của mình là “con đường đấu tranh”. Theo mô tả của học viên này, dường như lớp Luật của VOICE giống một diễn đàn tuyên truyền chính trị hơn là một lớp đào tạo về luật.

Tính tuyên truyền có lẽ cũng hiện diện trong nội dung đào tạo liên quan đến vấn đề môi trường mà VOICE cung cấp. Trong phần tiếp theo của bài “chia sẻ”, học viên này hoàn toàn đánh đồng các hoạt động bảo vệ môi trường với vấn đề biến đổi khí hậu, dù biến đổi khí hậu chỉ là một trong những vấn đề môi trường, và chỉ xử lí được bằng các hoạt động phối hợp ở cấp vĩ mô. Các vấn đề và giải pháp được học viên này nêu ra rất ăn khớp với hoạt động tuyên truyền ở các diễn đàn quốc tế về môi trường, nhưng không ăn khớp với các vấn đề môi trường thực tế mà các nhóm cư dân ở Việt Nam phải đối mặt. Bài “chia sẻ” cũng không cho thấy tác giả biết một “nhà hoạt động môi trường” có thể chọn những công việc và công tác cụ thể nào trong thực tế. Sau cùng, qua việc tác giả khẳng định “con người là nguyên nhân của biến đổi khí hậu”, có thể thấy cô không nắm được kiến thức cơ bản về bản chất của biến đổi khí hậu và lịch sử biến đổi khí hậu của trái đất. Vì đây là một bài “chia sẻ” tiêu biểu được đưa lên website của VOICE, nhằm quảng bá học bổng dài hạn của tổ chức này, có lẽ phải đặt nghi vấn rằng chương trình đào tạo về môi trường của VOICE hổng cả về mặt thực tế lẫn lí thuyết.

Trong hai bài chia sẻ còn lại, mang tên “Học về Internet giữa rừng Myanmar” (17) và “Làm sao để sống sót ở Philippines” (18), học viên chủ yếu viết về các trải nghiệm vui chơi của mình, và không nhắc gì đến kiến thức học được. Cả hai bài đề cập đến nhiều địa danh du lịch mà học viên đã đi qua, và được viết như những bài chia sẻ trải nghiệm đi du lịch. Những hạn chế của chương trình học mà VOICE cung cấp là không đáng ngạc nhiên, nếu chúng ta nhớ rằng Asian Bridge, tổ chức thiết kế chuỗi chương trình học này, chuyên dùng khách du lịch để thực hiện các hoạt động thiện nguyện hoặc hoạt động dân sự mang tính phong trào, đồng thời dùng các hoạt động dân sự, hoạt động phong trào để cung cấp nơi ăn, chốn ở và hoạt động giải trí cho khách du lịch.

34

Khách sạn được sử dụng cho khóa học về Internet ‘giữa rừng Myanmar

 

Chú thích:

(1) http://nguyentandung.org/bong-den-bi-an-jg-summit-holdings.html

(2) https://www.voatiengviet.com/a/tu-vietnam-sang-my/1834179.html

(3) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/civil-society-threaten-regime-kh-10072013124830.html

(4) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2013/10/131010_detained_youth_asian_bridge_course

(5) https://www.facebook.com/asianbridgephilippines/posts/10202257864432653

(6) http://chauxuannguyen.org/2013/10/09/thong-cao-bao-chi-cua-asian-bridge-philippines-nhom-hoc-vien-viet-nam-bi-bat-sau-khi-tham-gia-khoa-hoc-ve-xa-hoi-dan-su-tai-phi/

(7) https://www.facebook.com/asianbridgephilippines/posts/445033918940774

(8) http://goodtravel.ph/about-us

(9) https://yellow.place/en/asian-bridge-philippines-ngo-center-inc-quezon-city-philippines

(10) https://www.facebook.com/hyowoo.na/about?lst=100007797947027%3A1129072189%3A1505333946

(11) http://chauvanthi.blogspot.com/2013/11/letter-of-condolences-for-filippino.html

(12) https://www.nguoi-viet.com/newarticle/Khong-phai-chuyen-Tuong-Giap-5254/amp/

(13) http://vietnamvoice.org/2017/05/noi-dung-chuong-trinh-dao-tao-dai-han-cua-voice/

(14) http://vietnamvoice.org/2016/07/hoc-bong-xa-hoi-dan-su-voice-2016/

(15) https://www.facebook.com/quyenconnguoi/posts/1023318337723182:0

(16) http://vietnamvoice.org/2017/06/chia-se-toi-la-mot-nha-hoat-dong-ve-moi-truong/

(17) http://vietnamvoice.org/2017/03/chia-se-hoc-ve-internet-o-giua-rung-myanmar/

(18) http://vietnamvoice.org/2017/03/chia-se-lam-sao-de-song-sot-o-philippines/

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author