Điểm tin lề trái số 50:Giới “dân chửi” nói gì khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuất hiện trở lại?

Điểm tin lề trái số 50:Giới “dân chửi” nói gì khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuất hiện trở lại?

Overview

 

Chào các bạn. Đây là chương trình Điểm tin Lề trái số 50, soạn vào ngày Chủ nhật, 19/05/2019. Như thông lệ, chúng tôi sẽ điểm lại những sóng truyền thông lề trái trong tuần này, và chỉ ra những sự thật thú vị mà các bạn chưa chú ý trong mỗi sóng.

 

Sóng truyền thông số 1:

Giới “dân chửi” nói gì khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuất hiện trở lại?

Hội nghị Trung ương 10, khóa XII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra từ ngày 16 đến ngày 18/05/2019 tại Hà Nội. Trong tuần qua, nhiều bộ phận của dư luận phi chính thống đã bình luận về các diễn biến xoay quanh hội nghị, chủ yếu tập trung vào 3 vấn đề, là tình hình sức khỏe của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, giá trị của chiến dịch chống tham nhũng, và vấn đề thay đổi chủ trương, đường lối đặt ra trong hội nghị.

Chủ đề thứ nhất, là tình hình sức khỏe của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, được đặc biệt quan tâm. Từ khóa “Nguyễn Phú Trọng” đứng thứ hai trong số những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên Google vào ngày 14/05/2019, khi Tổng Bí thư xuất hiện trở lại trên truyền hình sau 1 tháng dưỡng bệnh. Quan điểm của dư luận phi chính thống về sự kiện này phân hóa theo nhiều hướng khác nhau.

Về câu hỏi thứ nhất, là Tổng Bí thư đã bình phục chưa, hầu hết giới chống đối tuyên truyền rằng bức ảnh mà AFP mua lại của Thông Tấn Xã Việt Nam, cho thấy Tổng Bí thư ngồi họp trên ghế có dây an toàn, là bằng chứng cho thấy Tổng Bí thư vẫn chưa khỏe, vì vậy nội bộ Đảng và Nhà nước vẫn đang rối ren. Trong khi đó, David Brown và Carlyle Thayer nói với BBC rằng qua việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuất hiện lại trước và trong Hội nghị 10, có thể thấy truyền thông Việt Nam đang muốn khẳng định rằng Tổng Bí thư “vẫn đang kiểm soát, lãnh đạo Đảng và Nhà nước như bình thường”, và “Đảng sẽ không rơi vào vòng xoáy đấu đá nội bộ trong những tháng dẫn tới Đại hội Đảng 13 sắp đến”. Tuy nhiên, họ cũng nói rằng những hình ảnh này chưa đủ thuyết phục để cho thấy Tổng Bí thư đã “hoàn toàn khỏe lại” để “đảm bảo có chuyển đổi êm đềm cho các lãnh đạo mới chia sẻ viễn kiến của ông”.

Về câu hỏi thứ hai, là nên có thái độ gì trước diễn biến sức khỏe của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hầu hết giới chống đối cực đoan tiếp tục tỏ thái độ hả hê. Họ tuyên truyền rằng việc Tổng Bí thư ốm sẽ “gây hỗn loạn trong Đảng Cộng sản”, vì vậy “có lợi cho chuyển đổi dân chủ”. Trong khi đó, một phần khá lớn dư luận trung lập, gồm cả dư luận của người Việt Nam ở nước ngoài, thì thể hiện thiện cảm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và chúc ông bình phục. Họ bình luận rằng nếu người khác lên lãnh đạo thì đất nước sẽ “còn nát hơn”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng quả thực không khỏe vào tháng trước, như thông tin mà Bộ Ngoại giao Việt Nam đã cung cấp. Dù vậy, sự xuất hiện của ông đã phủ nhận một loạt tin giả mà giới  “dân chửi” từng đưa – như tin ông đã mất, hoặc “bị méo mồm”, hoặc “bị liệt”… Sau vụ này, độc giả nên thận trọng hơn mỗi khi đọc báo “lề trái”.

Bên cạnh đó, diễn biến sức khỏe của Chủ tịch nước có khiến hoạt động của Nhà nước Việt Nam bị ngưng trệ hay không? Trong thực tế, bộ máy Nhà nước vẫn vận hành ổn định trong suốt 1 tháng qua, EVFTA vẫn được ký vào tháng 6, và chiến dịch chống tham nhũng thậm chí còn gia tăng tốc độ. Ngoài ra, trái với dự đoán của giới “dân chửi” hồi tháng trước, cả Trung Quốc lẫn những nhóm biểu tình, bạo động đều đã không thể “thừa nước đục thả câu” trước diễn biến sức khỏe của Tổng Bí thư. Như vậy, dường như giới “dân chửi” đang dấy lên dư luận về một vấn đề không có thật, để có cớ tiếp tục chửi bới và giải ngân, nhằm giữ cho guồng máy của chính họ không bị ngưng trệ trong những ngày bế tắc.

Sóng truyền thông này cũng cho thấy giới “dân chửi” khá rảnh và ác. Rảnh, vì họ đặt trọn hy vọng vào Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thay vì vào những “minh chủ” của chính họ như Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn  Ngọc Như Quỳnh, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Hữu Vinh… Ác, vì họ luôn mong ước bộ máy chính trị của Việt Nam rời vào hỗn loạn, bất kể những hậu quả có thể xảy đến với đất nước và người dân. Những biểu hiện này khiến chúng tôi xem giới “dân chửi” như những kẻ cơ hội và phá hoại, không khác gì đám quan tham mà họ công kích.

 

Sóng truyền thông số 2:

Dư luận lề trái nói gì về chiến dịch chống tham nhũng nhân Hội nghị 10?

Dư luận phi chính thống về Hội nghị Trung ương 10, diễn ra trong tuần qua, đã bao gồm một số ý kiến về giá trị của chiến dịch chống tham nhũng. Chẳng hạn, trong một cuộc phỏng vấn trên BBC, ông Nguyễn Quang A và bà Nguyên Bình đã phủ nhận giá trị của chiến dịch chống tham nhũng, qua đó công kích các tổng kết của Hội nghị 10 về thành tựu của chiến dịch.

Cụ thể, ông A bình luận rằng một hệ thống không có tự do báo chí, tư pháp độc lập và quyền tư hữu đất đai thì “tự nó đẻ ra tham nhũng”. Vì vậy, nếu muốn chống tham nhũng tận gốc, phải “thay đổi luật lệ, thay đổi cơ cấu của Nhà nước”, cho phép “tự do báo chí và tư pháp độc lập”. Còn việc bắt từng kẻ tham nhũng thì chỉ là giải pháp tình thế, “hết tên này thì nó sẽ sinh ra tên khác”, chỉ phục vụ việc “đấu đá nội bộ” chứ không giải quyết được gốc rễ vấn đề. Dù vậy, ông A ủng hộ việc bắt tham nhũng, vì cho rằng việc đó “làm người dân tin”, “cũng tốt chứ không phải là xấu”.

Trong khi đó, bà Nguyên Bình, con gái Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh bình luận rằng chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam không nghiêm túc ở hai điểm. Thứ nhất, người đứng đầu Đảng là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “đứng ra chống tham nhũng” nhưng không “tự mình làm gương mẫu kê khai tài sản”. Thứ hai, chiến dịch này “học theo Trung Quốc”, nhưng lại học một cách méo mó, vì ở Trung Quốc, Ban Kiểm tra và Kỷ luật do Đại hội Đảng bầu ra, ngang với Ban chấp hành Trung ương Đảng. Trong khi đó, ở Việt Nam không như vậy, nên sau này không còn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thì không còn ai chống được tham nhũng.

Ngoài ra, hiện giới chống đối đang lan truyền tin đồn rằng ông Tất Thành Cang và ông Nguyễn Đức Chung sắp trở thành mục tiêu của chiến dịch chống tham nhũng.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 2 ý kiến.

Thứ nhất, hiện không có đủ bằng chứng để khẳng định rằng chiến dịch chống tham nhũng “chỉ là đấu đá nội bộ”, như lời quy kết của ông Nguyễn Quang A. Trước đây, giới “dân chửi” từng biện luận rằng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ bắt người đối địch, không bắt người ủng hộ mình, khiến ông Trương Minh Tuấn không bị truy tố. Nay ông Tuấn đã bị truy tố, nếu giới “dân chửi” không tìm được bằng chứng khác, thì chiến dịch chống tham nhũng coi như đã được minh oan. Ngoài ra, cần lưu ý rằng việc chống tham nhũng phải được tiến hành theo quy định của pháp luật, bắt quan tham nào cũng là góp phần thực thi pháp luật.

Thứ hai, tự do báo chí và tư pháp độc lập là một cách hiệu quả để chống tham nhũng, nhưng không phải là cách duy nhất. Về bản chất, chúng chỉ là phương thức để các nhánh quyền lực khác nhau giám sát lẫn nhau, sao cho không nhánh nào được lạm quyền và phạm luật. Thay vì copy mô hình giám sát của phương Tây một cách máy móc, chúng ta nên thiết kế những mô hình giám sát riêng, phù hợp với bối cảnh xã hội và hoàn cảnh lịch sử của riêng mình. Dù pháp chế của Vệ Ưởng thời xưa không bao gồm tự do báo chí và tư pháp độc lập, những phương thức giám sát mà nó đặt ra cũng đã khiến thái tử bị phạt, trong nước không nảy sinh trộm cắp, lạm quyền, tham nhũng.

Trên tinh thần đó, cả mô hình “báo chí, tư pháp độc lập” của phương Tây lẫn mô hình “Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng nhiều thẩm quyền” của Trung Quốc đều đáng học hỏi, nhằm phục vụ quá trình cải cách hành chính, chống tham nhũng của Việt Nam. Hy vọng ông Nguyễn Quang A giữ thái độ cởi mở của người trí thức khi tiếp cận chủ đề này, thay vì chủ trương rập khuôn bắt chước phương Tây một cách chủ quan, duy ý chí.

 

Sóng truyền thông số 3:

Phương hướng đổi mới, cải cách trong Đại hội Đảng lần thứ XIII
có giống những gì dư luận “lề trái” đồn đại?

Trong tuần qua, một phần dư luận “lề trái” đã đồn đại về vấn đề thay đổi chủ trương, đường lối đặt ra trong Hội nghị Trung ương 10, khóa XII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ bình luận về chủ đề này trên 2 khía cạnh, là nhu cầu thay đổi đặt ra cho Hội nghị 10 và Đại hội XIII, cùng những biểu hiện cho thấy Hội nghị đang đặt vấn đề thay đổi.

Ở khía cạnh thứ nhất, Phạm Quý Thọ nói với BBC rằng “sau một thời gian khủng hoảng của nhiệm kỳ trước, kể cả về mặt kinh tế, xã hội, kể cả về mặt nhân sự, ý thức hệ”, có nhiều nhu cầu thay đổi đặt ra với Hội nghị Trung ương 10 trong bối cảnh hướng đến Đại hội XIII. Chúng bao gồm nhu cầu thay đổi pháp luật, thể chế để thích ứng với chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và EVFTA; và nhu cầu bỏ chính sách phát triển kinh tế nhờ các doanh nghiệp nhà nước “quả đấm thép”, để thay bằng chính sách “tư nhân hóa”. Ông Thọ nói rằng nếu những thay đổi vừa nêu không xuất hiện trong các văn kiện của Hội nghị, thì “e là vẫn giữ nguyên như thế thôi”.

Ở khía cạnh thứ hai, hầu hết dư luận phi chính thống bình luận rằng các phát biểu tại hội nghị vẫn nhàm chán, khuôn sáo như mọi khi, không có điểm nào đáng chú ý. Trong khi đó, Trần Đình Thu bình luận rằng qua việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt ra 3 câu hỏi “lạ”, “mang tính gợi mở” và “chưa bao giờ được hỏi” tại hội nghị – là “Có nên xóa bỏ thành phần kinh tế nhà nước hay không?”, “Đổi mới chính trị có phải là đổi mới chế độ chính trị không?”, và “Có cần phải sửa đổi điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam hay không?” – có thể thấy hội nghị này mang đến nhiều cơ hội “thay đổi”.

Tóm lại, khi đồn đại về nhu cầu thay đổi đặt ra trong Hội nghị Trung ương 10 và Đại hội XIII, dư luận lề trái chủ yếu nhắm đến 2 câu hỏi. Câu hỏi một, là Đại hội có bàn về những biến chuyển lớn trong môi trường quốc tế; về chính sách phát triển kinh tế cùng mô hình quan hệ sản xuất; và về chuyện đổi mới chính trị hay không. Câu hỏi hai, là nếu có bàn thì bàn đến giới hạn nào, có hay không đặt ra vấn đề “thay đổi thể chế” mà họ đang chờ đợi.

Về câu hỏi đầu tiên, lãnh đạo Đảng đã khẳng định rằng Đại hội XIII sẽ bàn về những vấn đề đó. Cụ thể, trong phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói các văn kiện trình Đại hội XIII phải “tập trung làm rõ và xử lý thật tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”. Ngoài ra, “về quốc phòng, an ninh, đối ngoại: trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường trên thế giới, trong khu vực, cần quan tâm đặc biệt…”.

Đoạn trích vừa nêu cũng cho thấy các văn kiện trình Đại hội XIII sẽ hướng đến việc đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế và chính trị, sao cho hài hòa với những biến chuyển trong nước, ngoài nước, và với nhu cầu phát triển của quốc gia. Ngoài ra, diễn văn bế mạc cũng lưu ý rằng “về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; công tác bảo vệ chính trị nội bộ…”. Qua đó, có thể thấy Đại hội XIII có đặt ra vấn đề đổi mới chính trị, nhưng không ở tầm lơ lửng như ông Trần Đình Thu đang tưởng tượng.

 

Sóng truyền thông số 4:

Toàn cảnh vụ người ủng hộ linh mục Lê Ngọc Thanh
“đấu tố” Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích

Từ ngày 11/05/2019, các thành phần chống đối, bất mãn có quan hệ với tu viện Dòng Chúa Cứu thế (DCCT) Kỳ Đồng đã tạo một sóng truyền thông lớn, để tuyên truyền rằng Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích đang “cộng tác” với Nhà nước nhằm “phá” truyền thông DCCT và chương trình “tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng hòa” (VNCH).

Nguyên nhân sâu xa của sóng truyền thông này là một cuộc cạnh tranh địa vị trong nội bộ DCCT Việt Nam, diễn ra giữa cánh linh mục Vũ Khởi Phụng, Phạm Trung Thành và cánh linh mục Nguyễn Ngọc Bích.

Cụ thể, trước năm 1975, linh mục Vũ Khởi Phụng từng giữ chức Thư ký Tòa soạn kiêm Chủ bút báo “Đức Mẹ hằng cứu giúp” của DCCT Việt Nam – một tờ báo mang quan điểm “chống Cộng” và ủng hộ chế độ, quân đội VNCH cũ. Vào hai năm 2008 và 2011, linh mục Phạm Trung Thành liên tiếp đắc cử chức Giám tỉnh DCCT Việt Nam, và liên tiếp đề cử thầy mình, là linh mục Vũ Khởi Phụng, vào giữ chức Bề trên tại Tu viện DCCT Thái Hà, Hà Nội. Trong hai nhiệm kỳ này, dưới sự dẫn dắt của 2 linh mục Thanh và Phụng, DCCT liên tục tổ chức nhiều hoạt động chính trị gây xung đột với Nhà nước – bao gồm các cuộc biểu tình “đòi đất” cho tu viện (mà trước đó chưa từng có), các hoạt động truyền thông chống Nhà nước, và các hoạt động từ thiện “tri ân thương phế binh VNCH”.

Năm 2015, linh mục Nguyễn Ngọc Bích đắc cử chức Giám tỉnh DCCT Việt Nam, thay thế linh mục Phạm Trung Thành. Sau đó một thời gian ngắn, linh mục Vũ Khởi Phụng mất chức Bề trên tu viện Thái Hà; đồng thời cả ông Thành lẫn ông Phụng cùng “xin nghỉ để chữa bệnh”, không can thiệp vào công việc nội bộ của DCCT. Ngay sau khi nhậm chức, linh mục Nguyễn Ngọc Bích thay thế toàn bộ nhân sự Ban Truyền thông DCCT Việt Nam, đóng cửa fanpage “Truyền thông Chúa Cứu thế” cũ; đồng thời ngăn cản các linh mục sử dụng danh nghĩa, cơ sở vật chất của DCCT để tổ chức các hoạt động hỗ trợ, tri ân thương phế binh VNCH. Đáp lại, Trưởng Ban Truyền thông cũ là linh mục Lê Ngọc Thanh lập fanpage “Tin Mừng cho Người nghèo” để thay thế fanpage cũ; còn nhân sự của chương trình “Tri ân thương phế binh VNCH” giữ được chương trình này sau khi phản đối ông Bích bằng truyền thông. Ngoài ra, trong nhiệm kỳ đầu của ông Bích, DCCT vẫn tiếp tục cung cấp địa điểm để nhiều cá nhân chống đối trốn tránh pháp luật, tổ chức hội thảo và khóa huấn luyện, hoặc in và tàng trữ tài liệu bất hợp pháp.

Ngày 15/01/2019, linh mục Nguyễn Ngọc Bích tái đắc cử chức Giám tỉnh DCCT Việt Nam. Trong nửa đầu tháng 05/2019, đã diễn ra 2 sự kiện được xem là gây bất lợi cho các thành phần chống đối, bất mãn có quan hệ với DCCT. Một, là việc 3 linh mục Lê Ngọc Thanh, Trương Hoàng Vũ, Nguyễn Duy Tân bị thuyên chuyển nhiệm sở, trong đó ông Thanh và ông Vũ bị chuyển từ TP.HCM về các địa phương. Hai, là có tin Văn phòng Công lý & Hòa bình của DCCT Sài Gòn sắp bị đổi tên thành “Phòng Phát triển Con người Toàn diện”, đồng thời bị tạm đóng cửa, chuyển đồ đạc ra ngoài cho đến khi có thông báo mới. Ngoài ra, cánh Công giáo bất mãn cũng công kích việc linh mục Đỗ Mạnh Hùng viết trong sổ tang rằng ông, cùng “toàn thể giáo dân Công giáo của Tổng Giáo phận TP.HCM” do ông quản lý, “xin chia buồn sâu sắc” với gia đình Đại tướng Lê Đức Anh. Họ cho rằng thay vì dùng chữ “Giáo phận TP.HCM”, phải viết là “Giáo phận Sài Gòn” như cách gọi lâu nay mới đúng.

Trước các luồng dư luận đó, linh mục Lê Ngọc Thanh viết trên Facebook cá nhân rằng việc ông bị thuyên chuyển là một hiện tượng bình thường, bởi DCCT quy định rằng linh mục phải đổi nhiệm sở 8 năm một lần, mà ông đã ở tu viện DCCT Sài Gòn được 10 năm. Tuy nhiên, từ ngày 10/05, các thành phần chống đối, bất mãn có quan hệ với DCCT vẫn phát động một chiến dịch truyền thông lớn để chống những thay đổi gây bất lợi cho họ, và quy kết rằng linh mục Nguyễn Ngọc Bích và Nhà nước Việt Nam đã gây ra những thay đổi đó. Trong chiến dịch, họ tập trung đưa ra 4 thông điệp:

Thứ nhất, họ tung tin rằng Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích sắp bổ nhiệm một Chánh xứ mới cho tu viện DCCT Kỳ Đồng, và vị này sẽ ngưng chương trình “tri ân thương phế binh VNCH”. Thêm nữa, việc thuyên chuyển 2 linh mục Lê Ngọc Thanh và Trương Hoàng Vũ sẽ gây bất lợi cho nhiều hoạt động chống đối mà họ khởi xướng – như “AmenTV”, “Hội luận Cà phê Đá” và “vườn rau Lộc Hưng”.

Thứ hai, họ tuyên truyền rằng linh mục Nguyễn Ngọc Bích đã “phản bội Chúa”, “bán đứng Chúa” khi “phụng sự” Nhà nước Việt Nam để đổi lấy “cái ghế” trong DCCT. Khi đưa ra thông điệp này, nhiều người trong số họ đã có những phát ngôn không phù hợp với phận vị của mình trong Giáo hội. Chẳng hạn, Nguyễn Lai và Trần Vũ Anh Bình viết rằng linh mục Bích đã “phụng sự ma quỷ”, “cộng tác với quỷ dữ”.

Thứ ba, họ tuyên truyền rằng Nhà nước sắp tạo ra một “Giáo hội Công giáo quốc doanh”, vận hành bằng tiền bạc và các tệ nạn thay vì bằng đức tin, giống như đã làm với Phật giáo.

Thứ tư, họ tuyên truyền rằng qua việc “dẹp” một chương trình hỗ trợ thương phế binh VNCH, có thể thấy Nhà nước Việt Nam “căm thù lòng tốt và các hoạt động thiện nguyện”, nói dối về vấn đề “hòa giải dân tộc”, và bị “hoang tưởng” về khả năng chống đối của các thương binh tàn phế.

Sóng truyền thông này sự dụng một số thông tin thiếu căn cứ hoặc sai sự thật. Về thông tin thiếu căn cứ, thực ra chưa có thông báo chính thức nào về việc ngừng các chương trình hỗ trợ thương phế binh. Về thông tin sai sự thật, Tuấn Khanh công kích việc “Phòng Công Lý & Hòa Bình sẽ bị đổi thành ‘Phòng Phát triển Con người Toàn diện’, nghe như một tổ chức của Ủy ban Phường”. Dù một độc giả đã comment rằng việc đổi tên nhằm tuân thủ chính sách mới của Giáo hoàng Francis – theo đó từ tháng 01/2017, Hội đồng Tòa thánh vì Công lý & Hòa bình cùng 3 hội đồng khác bị giải tán, để sáp nhập thành “Bộ Phát triển Con người Toàn diện” mà Giáo hoàng mới lập ra – Tuấn Khanh vẫn không đính chính thông tin sai vừa kể.

Về mặt chiến thuật, sóng truyền thông này nhấn mạnh vào những hình ảnh và chuyện kể mua nước mắt của chương trình từ thiện “tri ân thương phế binh”, để tạo ấn tượng rằng nhóm linh mục Lê Ngọc Thanh là người tốt, còn linh mục Nguyễn Ngọc Bích và Nhà nước Việt Nam là kẻ xấu.

Qua theo dõi, được biết chiến dịch truyền thông này quy tụ một số cá nhân chống đối có quan hệ với DCCT Kỳ Đồng, trong đó có các tình nguyện viên của chương trình “trợ giúp thương phế binh VNCH” và các cá nhân chống đối trốn trong “vườn rau Lộc Hưng”. Phạm Thanh Nghiên và Ngô Kim Hoa khởi đầu chiến dịch vào ngày 11/05, Tuấn Khanh và Nguyễn Lai viết những bài có tính quyết định vào ngày 13/05, còn các cá nhân hưởng ứng bao gồm Dương Thị Tân, Lê Bảo Nhi, Trần Vũ Anh Bình, Theresa Thảo…

Vì cùng ngày 13/05, linh mục Lê Ngọc Thanh đăng ảnh chụp chung với nhóm tình nguyện viên “tri ân thương phế binh” mà không bình luận, còn linh mục Ngô Văn Kha viết một bài ủng hộ quan điểm của sóng truyền thông rồi đăng trên website “Tin Mừng cho Người nghèo”, có khả năng nhóm Lê Ngọc Thanh hậu thuẫn sóng truyền thông này, nhưng không ra mặt.

Khoảng 0h ngày 14/05, linh mục Lê Ngọc Thanh thông báo trên Facebook cá nhân rằng “Bề trên nhà Sài Gòn bảo vẫn tri ân thương phế binh VNCH, nhưng cách thức và nhân sự sẽ thay đổi”. Đến sáng sớm ngày 15/05, ông này mới đăng thông tin cải chính về vấn đề “Bộ Thăng tiến sự Phát triển Con người Toàn diện”.

Sau khi có hai thông báo trên, sóng truyền thông này vẫn tiếp tục, khi Nguyễn Lai và cựu binh Đặng Đình Hồng phản đối việc chuyển giao danh sách thương phế binh, mạnh thường quân cho nhân sự mới của chương trình “tri ân thương phế binh VNCH”, viện nhu cầu bảo mật, tránh những “hệ quả không hay”.

Nhìn chung, đa số cánh Công giáo bất mãn ủng hộ sóng truyền thông này. Trong khi đó, các lực lượng ngoài cuộc phản ứng với nó một cách khá thận trọng. Về phía Việt Tân, Angelina Trang Huỳnh viết bóng gió rằng trong chuyện Văn phòng Công lý & Hòa bình, giới chống đối nên hành xử một cách thận trọng, để về lâu về dài có thể “tranh thủ sự hậu thuẫn của đa số thầm lặng và trung dung, chứ không đẩy họ ra xa ta hơn”.

Trong khi đó, phải đến ngày 17/05, các đài nước ngoài mới bắt đầu đưa tin về vụ việc, qua bài phỏng vấn linh mục Nguyễn Ngọc Bích trên BBC. Ông Bích cho biết không hề có chuyện Văn phòng Công lý & Hòa bình sẽ bị đổi tên, hay chương trình hỗ trợ thương phế binh sẽ bị dừng, “những thông tin trên mạng xã hội về việc này là không đúng sự thật”. Về việc các linh mục Lê Ngọc Thanh, Trương Hoàng Vũ và Nguyễn Duy Tân sắp bị thuyên chuyển, ông Bích nói thuyên chuyển “là việc rất bình thường của tất cả các dòng tu”, “là công việc nội bộ mà người ngoài, thậm chí cả các đức giám mục, chẳng có lý do gì để xen vào”. Các linh mục được thuyên chuyển vừa nêu không phải là trường hợp cá biệt, vì ông Bích đã có 280 văn thư thuyên chuyển, bổ nhiệm từ ngày làm Giám tỉnh. Sau cùng, ông Bích nói:

“Tôi nghĩ rằng truyền thông cần có đạo đức. Phải tìm kiếm sự thật. Chỉ nói điều gì mình biết đúng sự thật. Không phổ biến những điều gian dối. Chúng ta biết rằng mình không thể chuộc lại những tai hại đã gây ra khi nói sai, nói xấu, khi suy diễn bừa bãi và tệ hơn nữa vu khống và bịa đặt. Nếu có một lương tâm ngay chính, biết yêu chuộng chân lý, chúng ta có thể đem lại những điều tốt đẹp khi sử dụng truyền thông”.

Sau khi xem xét toàn bộ vụ việc, chúng tôi nhận thấy nhóm ủng hộ linh mục Lê Ngọc Thanh và Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích từng có hiềm khích với nhau trong quá khứ. Từ những hiềm khích này, nhóm ủng hộ ông Thanh có lý do để lo ngại rằng ông Bích muốn thay đổi các hoạt động của họ, bao gồm chương trình trợ giúp thương phế binh. Tuy nhiên, dù có hay không có chuyện đó, thì nhóm ủng hộ ông Thanh cũng đã làm 3 chuyện sai quấy trong vụ việc này.

Thứ nhất, họ đã phản đối quyết định thuyên chuyển linh mục Lê Ngọc Thanh, trong khi quyết định đó hoàn toàn phù hợp với quy định của dòng tu, rằng linh mục phải đổi nhiệm sở 8 năm một lần.

Thứ hai, họ đã tung ra những thông tin mang tính võ đoán, sai sự thật, nhằm mục đích vu khống và bôi nhọ cá nhân, như Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích đã đề cập.

Thứ ba, họ đã vượt ra ngoài phận vị của mình trong giáo hội Công giáo, khi con chiên dám gọi bậc chăn chiên là “phản chúa”, “phụng sự ma quỷ”. Trong khi Giáo hội quy định rằng lời Chúa được linh mục truyền đến con chiên, dường như các nhóm Công giáo cực đoan đang quan niệm rằng “cộng đồng mạng” của họ có quyền phán ra lời Chúa.

Tiếc thay, Giáo hội Công giáo là một bộ máy hành chính chuyên chế, nơi hàng giáo chức được bổ nhiệm bởi những người ở cấp cao hơn, chứ không được bầu chọn bởi giáo dân hay “cộng đồng mạng”. Có lẽ nhóm ủng hộ linh mục Lê Ngọc Thanh nên bàn việc “dân chủ hóa” Giáo hội của mình, một chuyện mà những người Kháng cách đã bàn từ cách đây 500 năm, trước khi nghĩ đến chuyện “dân chủ hóa” các không gian khác.

 

Sóng truyền thông số 5:

Những nhầm lẫn của giới “dân chửi” khi bàn về vấn đề công đoàn độc lập

Trong tuần qua, báo chí đã đưa 2 tin tức liên quan đến khả năng hình thành các công đoàn độc lập ở Việt Nam. Đó là việc Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sẽ trình Quốc hội phê chuẩn Công ước số 98 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) vào ngày 29/05/2019, và việc website của Bộ Công thương thông báo hôm 10/05 rằng Việt Nam và EU sẽ ký hiệp định Tự do Thương mại (EVFTA) trong tuần tới. Ngoài ra, dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2019 đang được lấy ý kiến dư luận, trong thời gian từ ngày 28/04 đến ngày 28/06. Trước những diễn biến đó, bà Ca Dao, một thành viên cao cấp của tổ chức “Liên đoàn Lao động Việt Tự do”, đã viết một bài công kích chính sách của Nhà nước trong vấn đề này.

Bài của bà Dao chủ yếu xoay quanh 3 thông điệp.

Thứ nhất, bà phê phán rằng việc phê chuẩn Công ước số 98 (về quyền thương lượng tập thể) khi chưa phê chuẩn Công ước số 87 (về quyền tự do hội họp) là vô nghĩa, bởi “nếu không có một nghiệp đoàn thực sự độc lập để đại diện cho người dân”, thì thương lượng tập thể sẽ không đem lại quyền lợi cho công nhân, mà “chỉ là một sự dàn xếp giữa Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và chủ lao động”.

Thứ hai, bà công kích rằng Nhà nước Việt Nam chưa ký Công ước số 87 vì sợ việc này sẽ mở đường cho các tổ chức xã hội dân sự phát triển ở Việt Nam, dẫn đến việc Đảng Cộng sản Việt Nam bị cạnh tranh quyền lực. Và trong trường hợp này, lợi ích của người dân đã bị gác lại vì nỗi sợ của Nhà nước.

Thứ ba, bà công kích một số chi tiết trong bản dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi – bao gồm việc các nghiệp đoàn “không được hướng đến mục đích trị” và phải “hoạt động theo quy định của pháp luật”; việc “cơ quan chuyên môn giúp thực hiện việc chấp thuận đăng ký, giải thể nghiệp đoàn”; việc các hoạt động đình công không được làm ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng và trật tự công cộng.

Hiện dư luận phi chính thống đang tương đối thờ ơ với chủ đề “công đoàn độc lập”, sau một thời gian hào hứng khai thác hồi năm ngoái. Trong nửa đầu tháng 5, chỉ có 2 tổ chức khai thác chủ đề này, là Liên đoàn Lao động Việt Tự do, với bài viết của bà Ca Dao, và Hội Nhà báo Độc lập, với một số bài về EVFTA, chủ yếu lặp lại các thông điệp cũ.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 4 ý kiến.

Thứ nhất, bài viết của bà Ca Dao đã trích dẫn bản Dự thảo lần 2, được đưa ra lấy ý kiến vào năm 2017, thay vì bản Dự thảo lần 3, được đưa ra lấy ý kiến vào năm nay. Bản dự thảo mới có một số chi tiết khác biệt, chẳng hạn không sử dụng cụm từ “nghiệp đoàn” như trong bản dự thảo cũ. Qua sự nhầm lẫn đó, có thể thấy bà Dao đã không tìm hiểu một cách cẩn thận quá trình sửa đổi Bộ luật Lao động Việt Nam.

Thứ hai, theo lộ trình mà Việt Nam và EU đã thỏa thuận, Chủ tịch nước Việt Nam sẽ trình Quốc hội phê chuẩn Công ước số 98 vào năm 2019, Công ước số 105 vào năm 2020, và Công ước số 87 vào năm 2023. Như vậy, không có chuyện Việt Nam không phê chuẩn Công ước số 87 như bà Dao đã viết.

Thứ ba, vì công dân Việt Nam phải tuân thủ pháp luật, đương nhiên các công đoàn độc lập ở Việt Nam phải “hoạt động theo quy định của pháp luật”, dù bà Dao có thích điều đó hay không. Việc “cơ quan chuyên môn giúp thực hiện việc chấp thuận đăng ký, giải thể nghiệp đoàn” cũng không phải đặc điểm riêng của luật Việt Nam, mà là một thông lệ chung trên thế giới. Chẳng hạn, ở Mỹ, Ủy ban Quan hệ Lao động là cơ quan Nhà nước thực hiện việc công nhận và bảo vệ công đoàn, công nhận và bảo đảm sự thực thi thỏa ước lao động tập thể. Tương tự, ngoài Việt Nam, một số nước khác cũng quy định rằng các hoạt động đình công không được làm ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng và trật tự công cộng. Chẳng hạn, Quốc hội Na Uy có quyền cấm các cuộc đình công ảnh hưởng tới sự sống và sức khỏe của con người.

Thứ tư, khi bà Dao phản đối quy định rằng các công đoàn không được làm chính trị và không được phạm pháp, đình công không được ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng và trật tự công cộng, ta có quyền nghi ngờ mục đích của bà Dao. Dường như bà chỉ muốn lợi dụng mô hình công đoàn để tổ chức biểu tình nhằm mục đích lật đổ Nhà nước Việt Nam, chứ không hề quan tâm tới việc bảo vệ lợi ích của người lao động.

 

Sóng truyền thông số 6:

Ngày 13/05/2019, phái đoàn của Bộ Ngoại giao Mỹ, do trợ lý Ngoại trưởng Scott Busby dẫn đầu, đã đến gặp thành viên của một số tổ chức chống đối và nhóm tôn giáo không được công nhận ở Việt Nam, trước khi bước vào buổi đối thoại nhân quyền thường niên Việt – Mỹ được tổ chức hôm 15/05. Trong tuần qua, các cá nhân được mời đến cuộc gặp đã lợi dụng sự kiện này để tuyên truyền chống Nhà nước.

Các hoạt động tiếp xúc của phái đoàn Busby có thể chia làm 2 phần. Trước tiên là cuộc gặp tại nhà riêng ông Nguyễn Đan Quế, trong đó những người được mời bao gồm Phạm Chí Dũng, Lê Công Định và Phạm Bá Hải. Thứ hai là cuộc gặp tại chùa Giác Hoa, Bình Thạnh, TP.HCM, trong đó những người được mời bao gồm một số thành viên của Hội đồng Liên tôn, Liên đoàn Lao động Việt Tự do và Hội Nhà báo Độc lập. Một số khách mời, bao gồm Lê Công Định, Phạm Bá Hải và Hứa Phi, nói rằng họ đã bị ngăn không cho đến cuộc tiếp xúc này.

Trong cuộc gặp tại chùa Giác Hoa, Thích Không Tánh thay mặt Hội đồng Liên tôn gửi bản tường trình chung và kiến nghị tới phái đoàn. Số còn còn lại đại ý nói với phái đoàn rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, thể hiện qua việc các “linh mục lên tiếng về quyền con người” không được Nhà nước cấp passport, vụ “đàn áp Chánh Trị sự Hứa Phi”, vụ một số khách mời bị ngăn không cho đến cuộc tiếp xúc… Tương tự, Ngọc Linh (thành viên Lao Động Việt) nói “Việt Nam chưa có các công đoàn độc lập”, Nguyễn Thiện Nhân (thành viên Hội Nhà báo Độc lập) nói “Việt Nam chưa có tự do báo chí”. Họ đề nghị phía Mỹ “quan tâm về nhân quyền khi bang giao với chính phủ Việt Nam”.

Cùng lúc đó, Lê Công Định và Hứa Phi cũng dùng Facebook và các cuộc phỏng vấn để tuyên truyền về việc họ bị chặn không cho đến cuộc gặp. Họ nói rằng việc này cho thấy Việt Nam “chưa đối thoại đã vi phạm nhân quyền”, phái đoàn Mỹ chỉ cần nhìn vào đó để kết luận.

Ngoài các cá nhân trực tiếp liên quan, các báo chống đối cũng hỗ trợ cho hướng tuyên truyền này thông qua hoạt động đưa tin, trong khi Bộ Ngoại giao Mỹ hỗ trợ bằng cách ra thông cáo báo chí.

Sau khi xem xét vụ việc, chúng tôi thấy Hội đồng Liên tôn đang bóp méo bản chất của vấn đề. Việc một số linh mục bị cấm xuất cảnh là có thật. Tuy nhiên, họ bị cấm xuất cảnh không phải vì sinh hoạt tôn giáo thuần túy, mà vì đã lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền chống Nhà nước, kích động quần chúng biểu tình, bạo động. Các hoạt động của họ đã gây ra nhiều thiệt hại đo đếm được cho xã hội, bao gồm các cuộc bạo động “cách mạng cá” năm 2016 – khi người biểu tình, toàn bộ là giáo dân ngưới quyền các linh mục cực đoan, đã chặn đường Quốc lộ 1, dùng gạch đá và gậy gỗ tấn công cảnh sát, đánh chiếm và đập phá trụ sở chính quyền địa phương. Các bạn có thể nhìn phát biểu của những linh mục dưới đây, xem họ chỉ sinh hoạt tôn giáo đơn thuần hay đang lợi dụng tôn giáo để làm chính trị:

 

Theo Điều 21 văn bản hợp nhất Nghị định số 07/VBHN-BCA ngày 31/12/2015 quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, công dân Việt Nam ở trong nước có thể chưa được xuất cảnh vì lý do an ninh quốc gia. Vì vậy, việc ngăn họ xuất cảnh phù hợp với quy định của pháp luật.

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author