Điểm tin lề trái số 49: Anh Ba Sàm có đang “khai dân trí”?

Điểm tin lề trái số 49:  Anh Ba Sàm có đang “khai dân trí”?

Overview

 

Chào các bạn. Đây là chương trình Điểm tin Lề trái số 48, soạn vào ngày Chủ nhật, 12/05/2019. Như thông lệ, chúng tôi sẽ điểm lại những sóng truyền thông lề trái trong tuần này, và chỉ ra những sự thật thú vị mà các bạn chưa chú ý trong mỗi sóng.

 

Sóng truyền thông số 1:

Anh Ba Sàm có đang “khai dân trí”?

Năm 2014, chủ blog Anh Ba Sàm là ông Nguyễn Hữu Vinh đã bị kết án 5 năm tù giam vì đăng tải nhiều bài viết vi phạm Điều 258 Bộ luật Hình sự, quy định tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”. Vì blog Anh Ba Sàm và các hoạt động khác của Nguyễn Hữu Vinh có ảnh hưởng lớn đến giới chống đối Việt Nam, khi ông Vinh mãn hạn tù vào ngày 05/05/2019 vừa qua, giới chống đối đã tổ chức nhiều hoạt động để ca ngợi ông, đồng thời công kích Nhà nước.

Trong 5 năm Nguyễn Hữu Vinh thi hành án, các hoạt động truyền thông, vận động quốc tế để hỗ trợ ông chủ yếu được tiến hành bởi vợ ông là bà Lê Thị Minh Hà, với sự trợ giúp đắc lực của nhóm Phạm Đoan Trang. Từ 2 tuần trước thời điểm ông Vinh ra tù, bà Hà tiếp tục hâm nóng dư luận về ông, khiến giới chống đối chú ý. Nhìn chung, bà Hà ca ngợi rằng từ một cựu sĩ quan an ninh quen nhiều quan chức lớn trong ngành, ông Vinh đã trở thành một “nhà hoạt động” giàu lý tưởng, hy sinh quên mình vì xã hội, vì sự thay đổi. Chẳng hạn, khi trả lời phỏng vấn BBC vào ngày ông Vinh ra tù, bà Hà ca ngợi ông là một “tù nhân bận rộn”, dành hầu hết thời gian trong tù để “đấu tranh cho quyền của tù nhân”, thông qua việc nghiên cứu tài liệu, viết đơn thư khiếu nại, đề đạt, và dạy các phạm nhân khác cách tự “đấu tranh” đòi quyền lợi. Bà Hà gọi tất cả những hoạt động này, cùng những hoạt động mà ông Vinh từng tiến hành trước khi bị bắt, là “khai dân trí”.

Bản thân Nguyễn Hữu Vinh cũng tỏ ra bận rộn, giống như mô tả của bà Hà. Khi trả lời phỏng vấn vào ngày ra tù, ông Vinh tập trung công kích các dấu hiệu “vi phạm” của cơ quan quản lý nhà tù, mà ông được chứng kiến trong lúc thi hành án. Những “vi phạm” mà ông Vinh đã mô tả bao gồm 5 điểm. Một, là việc cơ quan chức năng có dấu hiệu vi phạm các thủ tục tố tụng và thủ tục thi hành án trong quá trình xử lý ông. Hai, là việc phạm nhân hình sự liên quan đến vấn đề an ninh quốc gia bị theo dõi bằng camera, trong khi tù hình sự thường thì không, trong khi đây mới là đối tượng hay gây gổ, vi phạm nội quy nhà tù. Ba, là việc cán bộ cơ quan quản lý trại giam chỉ giám sát việc thi hành án một cách hình thức, trong khi Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, Mặt trận Tổ Quốc không hiện diện để làm công tác giám sát theo đúng quy định. Bốn, là việc trại giam tịch thu “hơn 1000 trang tài liệu” mà ông viết trong tù, đồng thời không chuyển cho ông chiếc đồng hồ treo tường mà ông được một nghị sĩ Đức tặng.

Ngoài ra, ông Vinh cũng kể về quan hệ thân mật giữa ông và các bạn học, bạn cùng đơn vị cũ trong ngành công an, bao gồm Bộ trưởng Tô Lâm và cố Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Tuy nhiên, trong điều phàn nàn thứ năm, ông Vinh trách Bộ trưởng Lâm và cố Chủ tịch Quang không trả lời các đơn đề đạt, góp ý của ông, về việc chỉnh sửa các nội quy của trại giam sao cho hợp lý.

Những lời công kích và kể lể của ông Vinh được viết bằng giọng văn mạch lạc, có chừng mực, dễ được lòng dư luận.

Trong tuần qua, đa phần dư luận chống đối trên Internet đồng thanh ca ngợi ông Vinh là “an ninh cộng sản phản tỉnh”, giàu lý tưởng, giàu đức hy sinh…, tương tự thông điệp mà bà Hà dùng lâu nay. Họ cũng dùng thông điệp này để tìm cách tác động đến tầng lớp công chức, Đảng viên, và bộ phận công chúng tin tưởng thông tin chính thống.

Về mặt hoạt động, “Nhà xuất bản Trẻ Hà Nội” và “Nhà xuất bản Tự Do” mượn dịp này để tái bản cuốn “Anh Ba Sàm” ca ngợi ông Vinh. CLB Lê Hiếu Đằng và một số hội nhóm chống đối khác tặng lẵng hoa cho Nguyễn Hữu Vinh từ 1 ngày trước khi ông ra tù. Họ cũng phàn nàn về việc không được căng biểu ngữ để đón ông Vinh ở cổng trại giam, không được đến nhà riêng ông Vinh để chúc mừng việc ông mãn án.

Hiện nay, giới “dân chửi” đang rơi vào tình trạng khủng hoảng nhân sự, do kẻ tị nạn, người đi tù. Phạm Đoan Trang, “lãnh tụ” nổi nhất còn sót lại trong nước, thì đã tha hóa thành hằn học, cực đoan, hết “đấu tố” nhóm trí thức già đến dè bỉu cánh hậu sinh có học. Vì vậy, một gương mặt còn giữ được ý chí và sự bình tĩnh như ông Nguyễn Hữu Vinh đương nhiên sẽ được giới “dân chửi” trọng vọng. Tuy nhiên, gọi các hoạt động của ông Vinh là “khai dân trí” thì có phần không phù hợp, khiến từ này bị hiểu sai nghĩa.

Chỉ cần nhìn bố cục của website Anh Ba Sàm, ta sẽ thấy đây không phải là một trang có chất lượng.

Thứ nhất, các mục bài của trang không được phân loại, sắp xếp theo bất cứ trật tự và tiêu chí định sẵn nào, mà hình thành một cách lộn xộn, tự phát, bạ đâu đăng đó:

 

Thứ hai, Anh Ba Sàm đăng tất cả các bài báo có  trong ngày vào chung một chỗ, mà không dùng các tiêu chuẩn của nghiệp vụ báo chí để chọn lọc tin. Thành ra tin tức, phóng sự, bình luận, lời kêu gọi nằm lẫn lộn với nhau; xen lẫn với những tin đồn, phỏng đoán sai sự thật của các thầy bói chính trị như Bùi Thanh Hiếu và Phạm Chí Dũng.

Thứ ba, như ảnh trên cho thấy, Anh Ba Sàm đăng một lượng lớn các bài viết “không thể kiểm chứng” về tình hình nội bộ của các lãnh đạo địa phương. E rằng khi đăng các bài này, trang Anh Ba Sàm chỉ muốn dắt mũi dân để phục vụ cho các nhóm lợi ích địa phương, chứ chẳng “phá vòng nô lệ” như họ nói.

Với bố cục và chất lượng thông tin như vậy, trang Anh Ba Sàm chẳng khác gì một nồi cám lợn, với các loại bài viết thượng vàng hạ cám trộn lẫn với nhau. Cách phục vụ này cho thấy họ không tôn trọng người đọc, cũng không thật sự quan tâm đến việc nâng cao dân trí. Tự cổ trí kim, người ta “khai dân trí” bằng kiến thức và nghệ thuật – tức những sản phẩm thông tin hoàn chỉnh, đem lại hiểu biết có tính khái quát về thế giới – chứ không “khai dân trí” bằng báo lá cải bao giờ.

Thành ra, dù ông Vinh rất nhiệt tình, chúng tôi vẫn xin nhắc ông rằng “nhiệt tình cộng ngu dốt bằng phá hoại”. Ông nên nhớ rằng từ khi trang Anh Ba Sàm xuất hiện cho đến nay, dường như trình độ dân trí của giới “dân chửi” càng ngày càng giảm sút.

 

Sóng truyền thông số 2:

Đâu là không gian hợp lý để phát huy quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam?

Để kỷ niệm Ngày Tự do Báo chí Thế giới (03/05) và ngày Nguyễn Hữu Vinh ra tù (05/05/2019), đài BBC tiếng Việt đã tổ chức một buổi tọa đàm về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam. Trong và sau buổi tọa đàm, Trần Quốc Thuận, Phạm Chí Dũng và Hoàng Ngọc Giao đã đòi Nhà nước Việt Nam bãi bỏ các hoạt động “định hướng”, “chỉ đạo”, “kiểm soát” đối với báo chí; công nhận báo chí tư nhân và xây dựng luật để quản lý báo chí tư nhân; trong khi Phạm Đoan Trang tuyên truyền rằng Việt Nam phải thay đổi chế độ để có tự do báo chí.

Cụ thể, trong cuộc tọa đàm, nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội Trần Quốc Thuận nói rằng Việt Nam thực ra không có tự do báo chí, vì 3 lý do. Một, là thay vì được tự do đưa tin rồi tự chịu trách nhiệm về thông tin; báo chí Việt Nam phải đưa tin “có định hướng, có chỉ đạo”. Hai, là không có báo chí tư nhân. Ba, là các tổ chức “giám sát, phản biện” phải trực thuộc Mặt trận Tổ quốc.

Trong khi đó, Phạm Chí Dũng đòi phải có “cách mạng báo chí” và “trả tự do cho những người đấu tranh vì quyền tự do ngôn luận và quyền lợi của người dân” “như Trần Huỳnh Duy Thức và Đỗ Công Đương”.

Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Viện Chính sách, Pháp luật và Phát triển, nói rằng Nhà nước phải “từ bỏ độc quyền về báo chí”, “để tất cả các thành phần khác tham gia làm báo và trên cơ sở cạnh tranh về thông tin, về chất lượng đưa tin, cũng như về nội dung”, và tạo “một hành lang pháp lý rất rõ ràng để xử lý những hành vi vu khống, hay những hành vi đưa tin trái sự thật và gây hậu quả”. Tóm lại, ông Giao muốn Việt Nam có báo chí tư nhân và khung pháp luật về vấn đề này.

Đi xa hơn 3 khách mời vừa nêu, Phạm Đoan Trang trả lời BBC sau buổi tọa đàm rằng chừng nào Việt Nam còn chế độ độc đảng thì còn chưa có tự do báo chí; và chế độ làm giới hạn trình độ nghiệp vụ, kỹ năng của nhà báo, làm tha hóa giới báo chí.

Ngoài ra, “một nhà nghiên cứu muốn giấu tên” ở Hà Nội nói với BBC rằng để nới rộng tự do báo chí ở Việt Nam, cần “chú ý đến” Luật Tiếp cận Thông tin, sửa Bộ luật Hình sự theo hướng loại bỏ những điều luật liên quan đến vấn đề an ninh quốc gia, ban hành Luật Biểu tình.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 3 nhận xét.

Thứ nhất, dù các khách mời trong cuộc tọa đàm của BBC tiếng Việt đưa ra khá nhiều ý kiến, chất lượng thảo luận của cuộc tọa đàm thực ra không cao. Trong suốt cuộc tọa đàm, các khách mời không thống nhất cách định nghĩa tự do báo chí, cũng không viện dẫn các văn bản về tự do báo chí của quốc tế hoặc Việt Nam để làm căn cứ bàn thảo. Vì vậy, khách mời chủ yếu chỉ chia sẻ các cảm nhận, suy nghĩ mang tính chủ quan và tản mạn của mình về vấn đề này. Hy vọng BBC lưu ý, để cải thiện chất lượng thảo luận trong các buổi tọa đàm tới.

Thứ hai, giả sử khách mời của BBC chịu trích dẫn các văn bản, họ sẽ thấy không cần nhắc đến vấn đề báo chí tư nhân trong thời điểm này, vì hai lý do.

Một: “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025”, đã được Thủ tướng phê duyệt, không để nhiều khoảng trống cho vấn đề tư nhân hóa báo chí.

Hai: các cam kết quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã ký chỉ đề cập đến vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí, chứ không nêu đích danh một giải pháp là “báo chí tư nhân”.

Chẳng hạn, Khoản 2 Điều 19 “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” chỉ quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”. Với quy định có phần “rộng mở” này, Nhà nước hoàn toàn có thể giải thích rằng mọi công dân Việt Nam đang có khả năng sử dụng quyền tự do ngôn luận thông qua việc gửi tin, bài cho báo chí của Nhà nước, hoặc đăng chúng lên không gian phi chính thống trên Internet. Nhà nước cũng có quyền hạn chế các tin, bài đe dọa “an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội”, theo quy định của pháp luật, như Khoản 3 Điều 19 của Công ước đã nêu.

Như vậy, thay vì ngoan cố đòi Nhà nước công nhận báo chí tư nhân và bãi bỏ các điều luật Hình sự liên quan đến vấn đề an ninh quốc gia, các khách mời của BBC nên tìm cách phát huy quyền tự do ngôn luận trong những không gian vừa phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, vừa phù hợp với các thỏa thuận về nhân quyền mà Việt Nam đã ký với quốc tế.

Thứ ba, một số khách mời và nội dung xuất hiện trong buổi tọa đàm của BBC hơi thiếu sức thuyết phục với độc giả. Một buổi thảo luận về báo chí không nên có sự hiện diện của Phạm Chí Dũng và Phạm Đoan Trang, trừ phi các tờ báo mở thêm mục “Chửi bới mỗi ngày” cho Trang và mục “Bói toán” cho Dũng. Việc Dũng đòi thả Trần Huỳnh Duy Thức nhân danh “quyền tự do báo chí” cũng không hợp lý, vì Thức bị bắt vì tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”, chứ không phải vì hoạt động báo chí.

 

Sóng truyền thông số 3:

Giới “dân chửi” có đang mừng hụt
về cuộc biểu tình của công nhân Việt Nam tại Đài Loan?

Trưa 05/05/2019, trước cổng Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc, vài chục công nhân Việt Nam đã tham gia một cuộc biểu tình đòi “hủy bỏ môi giới tư nhân” trong lĩnh vực xuất khẩu lao động giữa Việt Nam và Đài Loan. Qua tìm hiểu, được biết hoạt động này là một phần của chiến dịch có cùng mục tiêu, do Công hội Di công Đài Loan và một số NGO bảo vệ người lao động khác tổ chức từ cuối tháng 04/2019. Cuộc biểu tình được RFA quay phim, tường thuật trực tiếp, và quá trình kêu gọi biểu tình có sự hiện diện của linh mục Nguyễn Văn Hùng (một người có quan hệ với đảng Việt Tân, thường xuyên tổ chức biểu tình cho cộng đồng người Việt ở Đài Loan).

Hiện Công hội Di công Đài Loan chỉ tập trung vào mục tiêu chính của cuộc biểu tình, và vào việc bảo vệ người xuất khẩu lao động Việt Nam. Trong khi đó, một số tổ chức, cá nhân chống đối có quan tâm đến vấn đề “công đoàn độc lập”, như Nguyễn Anh Tuấn và Hội Nhà báo Độc lập, đang tận dụng sự kiện này để công kích Nhà nước về vấn đề quyền biểu tình, vấn đề quyền lợi người lao động.

Cụ thể, khi trả lời phỏng vấn RFA và BBC sau cuộc biểu tình, đại diện Công hội Di công Đài Loan cho rằng người Việt Nam xuất khẩu lao động tại Đài Loan đang phải trả mức phi môi giới cao gấp đôi, gấp ba lao động Thái Lan và Indonesia. Họ cũng bị các công ty môi giới cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện làm việc, ép làm thêm giờ bất hợp pháp. Vì vậy, Công hội muốn “chính phủ Việt Nam hủy bỏ môi giới tuyển dụng lao động tư nhân”, để chuyển sang “tuyển dụng trực tiếp giữa chính quyền Việt Nam với chính quyền Đài Loan”.

Chuang Shu-ching, một nhân viên xã hội tại Văn phòng Trợ giúp Công dân, Di dân Việt Nam, trả lời BBC rằng một số người Việt Nam nói “các công ty môi giới thu tiền cao như vậy vì họ phải trả thêm cho chính quyền”, tuy nhiên bà không chắc về độ xác thực của thông tin đó.

Về phía giới chống đối, Nguyễn Anh Tuấn tuyên truyền rằng qua sự kiện này, có thể thấy người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài có cơ hội thực hiện quyền biểu tình dễ dàng hơn người Việt Nam trong nước. Thêm nữa, việc người lao động Việt Nam so sánh quyền lợi của mình với lao động Thái Lan và Indonesia trong vụ việc này, cùng hiện tượng tương tự trong vụ Đoàn Thị Hương, cho thấy “người Việt đang ngày càng ý thức rõ hơn rằng” vì họ đóng thuế để nuôi Nhà nước, “chính quyền phải lấy việc phục vụ người dân làm lý do tồn tại”. Cả hai nhận định này đều sai sự thật, vì công nhân trong nước vẫn thường xuyên biểu tình, đình công đòi cải thiện điều kiện lao động, được báo chí chính thống đưa tin công khai; và vì một số cuộc biểu tình tương tự của công nhân Việt Nam ở Đài Loan đã diễn ra từ năm 2017, 2018.

Trong khi đó, dựa trên thông tin chưa được xác thực của bà Chuang Shu-ching, Kiều Phong (VNTB) tung tin đồn rằng “bộ lao động Việt Nam bán những suất đi Đài Loan cho các trung tâm rồi các trung tâm bán lại một lần nữa cho công nhân Việt”. Bút danh này cũng hô hào rằng “từ đây, hoạt động đấu tranh của công nhân sẽ chuyên nghiệp hơn và bài bản hơn, không để cho môi giới thích thì hoành hành như trước nữa”. Nhận định này cũng sai sự thật, vì cuộc biểu tình này không mới, như đã nêu.

Tóm lại, giới chống đối muốn khai thác chủ đề này ở góc độ quyền biểu tình, và hướng sự bức xúc của công nhân vào Nhà nước.

Qua cách phản ứng của giới “dân chửi” trong vụ việc này, có thể thấy họ không hề quan tâm đến quyền lợi thiết thực của công nhân, mà chỉ muốn lợi dụng công nhân để phát động biểu tình chống chế độ.

Trái với sự lạc quan thái quá của giới “dân chửi”, chúng tôi tin rằng họ sẽ không xơ múi được gì trong vụ việc này. Bởi nếu họ ủng hộ yêu sách của công nhân trong vụ việc này, họ sẽ phải công nhận tính chính danh của Nhà nước Việt Nam hiện tại. Thêm nữa, nếu Nhà nước quyết định ai được đi xuất khẩu lao động, cơ hội để giới “dân chửi” lôi kéo công nhân Việt Nam ở nước ngoài chắc chắn sẽ giảm đi.

 

Sóng truyền thông số 4:

Nhóm “đánh BOT” cố tình dừng xe gây tắc đường để biểu tình,
công an liệu có quyền giải tán?

Trưa 11/05/2019, một số thành viên của nhóm lái xe “đánh BOT” đã tụ tập trước trạm thu phí BOT Bắc Thăng Long – Nội Bài, để “phản đối trạm thu phí bất hợp lý” và đòi thả Hà Văn Nam. Các ảnh chụp cho thấy họ dừng xe ô tô trước trạm để gây ách tắc giao thông; đồng thời ngồi trên xe, treo, giơ biểu ngữ để thể hiện thái độ phản đối. Để xử lý hành vi tụ tập, gây mất trật tự công cộng, gây cản trở giao thông nghiêm trọng, lực lượng công an đã bắt tạm giữ hơn 10 người, và dùng xe cẩu để di chuyển 11 xe hơi của nhóm này. Nhân đó, các tổ chức, cá nhân chống đối đã tận dụng việc tường thuật, bình luận về sự kiện này để tuyên truyền chống Nhà nước.

Về mặt đưa tin, trong thời gian diễn ra vụ việc, các thành viên nhóm “đánh BOT” quay livestream trực tiếp từ hiện trường. Trong số này, chủ Facebook “Mạc Tư Khoa” giữ vai trò quan trọng. Võ Hồng Ly liên tục cập nhật tin, ảnh về vụ việc lên Facebook cá nhân, trong khi Nguyễn Lân Thắng đăng ảnh những nhân viên công vụ tham gia xử lý vụ việc. Một số thành viên nhóm “đánh BOT”, như giáo viên Đặng Thị Huệ, cũng trả lời phỏng vấn đài nước ngoài sau khi vụ việc kết thúc.

Khi tiến hành các hoạt động đưa tin vừa kể, họ đưa ra một số tường thuật mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn, ảnh chụp từ hiện trường của Mạc Tư Khoa và tin đưa bởi Võ Hồng Ly cho thấy đây là một cuộc biểu tình đòi thả Hà Văn Nam – người được xem là “thủ lĩnh” của nhóm “đánh BOT”, hiện đã bị bắt giữ. Trong khi đó, Đặng Thị Huệ lại trả lời báo chí rằng bà chỉ từ chối trả phí cho trạm Bắc Thăng Long – Nội Bài, vì không đồng ý với cách thu phí bất hợp lý của trạm này.

 

Về mặt bình luận, giới chống đối đưa ra 3 thông điệp.

Thứ nhất, họ tuyên truyền rằng các quan chức “tham nhũng” của Nhà nước đã cấu kết với các “nhóm lợi ích” tư bản. Vì vậy, Nhà nước đã cho công an “bảo kê” cho các doanh nghiệp thu phí bất hợp lý của người dân. Trong khi đó, nhóm “đánh BOT” là những “anh hùng” “chống tham nhũng” vì lợi ích của người dân.

Thứ hai, họ tuyên truyền rằng nhóm “đánh BOT” đang “thực hiện quyền bất tuân dân sự của mình”, không hề vi phạm pháp luật, trong khi cơ quan công an đã bắt, đánh người trái pháp luật. Thông điệp này phi lý, bởi một mặt, hành vi “bất tuân dân sự” là hành vi vi phạm pháp luật; mặt khác, họ không nhắc đến biên bản phạt và các điều luật cụ thể trong vụ này.

Thứ ba, họ tập trung vào những hình ảnh gây ấn tượng – như việc một người biểu tình bị đánh chảy máu mồm, việc đa phần những người bị bắt là phụ nữ… – để khiến độc giả có thiện cảm với mình và ác cảm với Nhà nước. Từ đó, một số cá nhân như Nguyễn Lân Thắng cũng kích động độc giả chống chế độ.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 2 nhận xét.

Thứ nhất, qua ảnh chụp tại hiện trường và phần tường thuật của Mạc Tư Khoa, Ly Hồng Ly, có thể thấy nhóm tài xế “đánh BOT” đã chủ động dàn xe tại trạm thu phí để gây ách tắc giao thông, rồi giơ biểu ngữ để đòi thả thành viên Phạm Văn Nam của họ. Như vậy, họ đã có dấu hiệu phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, với hành vi “Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng”, quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015. Trong tình huống này, công an hoàn toàn có quyền giải tán cuộc tụ tập của họ để tránh ách tắc giao thông. Họ cũng đã đưa tin sai sự thật, khi viết rằng mình chỉ “từ chối trả tiền cho trạm Bắc Thăng Long Nội Bài” vì “trạm thu phí không hợp lý”.

Thứ hai, trong vụ việc này, nhóm “đánh BOT” đã hành xử sai luật, còn công an làm đúng luật, vì lý do vừa nêu. Cách giải quyết của công an cũng hợp lý để đảm bảo lợi ích chung của xã hội. Cần nhớ rằng ở các nước phương Tây, cảnh sát cũng có quyền giải tán người biểu tình nếu họ gây ách tắc giao thông.

Thứ ba, nếu không hiểu rõ khái niệm “bất tuân dân sự”, giới “dân chửi” không nên lạm dụng từ này. Ngay từ khi ra đời vào năm 1848, khái niệm “bất tuân dân sự” đã được dùng để chỉ việc vi phạm các điều luật mà mình cho là bất công. Vì vậy, không thể vừa khoe mình đang “bất tuân dân sự”, vừa nói rằng mình không vi phạm pháp luật.

 

Sóng truyền thông số 5:

Cần thận trọng khi tiếp nhận thông tin về “vụ Formosa”

Ngày 06/05/2019, một số báo chính thống đã đăng tải một văn bản của cơ quan Công an tỉnh Hà Tĩnh, theo đó nhà máy thép của tập đoàn Formosa trên địa bàn tỉnh đang có 5 biểu hiện gây tác động xấu đến môi trường. Thứ nhất, nhà máy thải ra 3 triệu tấn chất thải rắn mỗi năm, nhưng chỉ xử lý hoặc tái sử dụng được một phần trong số đó, khiến khoảng 900.000 tấn chất thải đang tồn đọng. Thứ hai, đa số chất thải được chôn lấp hoặc sử dụng để làm đường, chôn lấp nền; số khác được tách chất độc hại hoặc tách kim loại để tái sử dụng; nhưng những biện pháp này “không đạt hiệu quả 100%”, khiến môi trường vẫn bị ảnh hưởng. Thứ ba, từ trước đến nay tập đoàn Formosa thuê các doanh nghiệp tư nhân phân tích chỉ tiêu môi trường của các chất thải này, cơ quan chức năng không lấy mẫu đối chứng, nên kết quả “khó khách quan”. Thứ tư, Formosa “không cung cấp cho cơ quan chức năng” “các kết quả phân tích vượt ngưỡng” “để theo dõi, xử lý”. Thứ năm, Formosa tự ý đặt tên cho bùn thải là “bùn quặng”, “bùn khoáng”, trong khi những tên gọi đó khiến người đọc hiểu sai vấn đề.

Vì những tác hại mà nhà máy thép Formosa gây ra cho môi trường từng châm ngòi cho nhiều cuộc biểu tình, bạo động trong năm 2016 và 2017, trong tuần qua, nhiều bộ phận của dư luận phi chính thống đã khai thác chủ đề này để tuyên truyền. Có thể chia họ ra là hai nhóm.

Nhóm thứ nhất liên kết vấn đề Formosa với chuyện nội chính. Chẳng hạn, Nguyễn Ngọc Chu quy trách nhiệm trong vụ việc này cho Bộ Tài nguyên và Môi trường, ở cả hai nhiệm kỳ. Lê Nguyễn Hương Trà bình luận rằng sóng truyền thông này nhắm đến ông Hoàng Trung Hải, người ký công văn hỏa tốc đồng ý cho tập đoàn Formosa lập nhà máy ở Hà Tĩnh, trong bối cảnh Hội nghị Trung ương 10 dự kiến diễn ra vào giữa tháng 05/2019.

Nhóm thứ hai tận dụng chủ đề này để tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam, đồng thời thúc đẩy các phong trào biểu tình, bạo động của mình. Chẳng hạn, các đảng Việt Tân đang đồng loạt tuyên truyền rằng hoặc Nhà nước “đóng cửa vĩnh viễn Formosa Hà Tĩnh”, hoặc “nhân dân” sẽ có lý do chính đáng để lật đổ Nhà nước. Các thành viên Green Trees tận dụng sự kiện này để quảng bá cuốn sách cũ của họ, đồng thời tuyên truyền rằng trong “vụ Formosa” họ làm đúng, Nhà nước làm sai.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 2 nhận xét.

Thứ nhất, dư luận nên xử lý thông tin về vụ việc này một cách thận trọng. Vì mỗi năm nhà máy Formosa thải ra 3 triệu tấn chất thải, 900.000 tấn còn tồn đọng chỉ chiếm 10% tổng số chất thải phát sinh trong 3 năm hoạt động vừa qua, chứ không chiếm “đa số” như báo chí mô tả. Hiện chưa có bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp tư nhân mà Formosa thuê đã báo cáo sai sự thật; còn các biện pháp xử lý thô sơ như chôn lấp, sử dụng để làm đường… thì đương nhiên không đạt hiệu quả xử lý 100%. Vì vậy, dư luận cần đợi thêm thông tin trước khi kết luận về mức ô nhiễm mà nhà máy Formosa gây ra cho môi trường trong khu vực, thay vì phóng đại nguy cơ để kích động như hiện tại.

Thứ hai, trong vụ việc này, giới “dân chửi” chưa có lý do chính đáng để quy kết trách nhiệm cho Nhà nước, vì 2 lý do. Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, thông tin về vụ việc này còn chưa đủ để kết luận, và đang bị dư luận thổi phồng quá mức. Thứ hai, chính Nhà nước đang chủ động điều tra và xử lý nhà máy Formosa, trong khi giới “dân chửi” chủ yếu tận dụng tình hình để kêu gọi lật đổ chế độ. Thứ ba, việc xử lý một nhà máy lớn, có vai trò nhất định đối với kinh tế địa phương như Formosa phải dựa trên những phép tính được mất, và cần thời gian để làm theo đúng trình tự của pháp luật, chứ không thể tiến hành tùy tiện như cách mà giới “dân chửi” tưởng tượng.

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author