Điểm tin lề trái số 48: Đám giỗ chế độ Việt Nam Cộng hòa năm nay không có gì mới

Điểm tin lề trái số 48: Đám giỗ chế độ Việt Nam Cộng hòa năm nay không có gì mới

Overview

 

Chào các bạn. Đây là chương trình Điểm tin Lề trái số 48, soạn vào ngày Chủ nhật, 28/04/2019. Như thông lệ, chúng tôi sẽ điểm lại những sóng truyền thông lề trái trong tuần này, và chỉ ra những sự thật thú vị mà các bạn chưa chú ý trong mỗi sóng.

 

Sóng truyền thông số 1:

Nếu EVN từ bỏ độc quyền, giá điện Việt Nam tăng hay giảm:

Trong tuần qua, việc giá điện tăng 8,36% đã khiến một số hộ dân ở TP.HCM phải trả hóa đơn tiền điện cao bất thường, làm nảy sinh một luồng dư luận công kích ngành điện Việt Nam trên báo chí chính thống và mạng xã hội. Nhân đó, các tổ chức, cá nhân chống đối cũng đồng loạt lợi dụng chủ đề này để tuyên truyền chống Nhà nước, hoặc để tạo các phong trào xã hội do họ dẫn dắt.

Cụ thể, ngày 20/03/2019, lãnh đạo Bộ Công thương thông báo rằng giá điện sẽ tăng 8,36% từ cùng ngày. Khoảng ngày 25/04, tức một tháng sau, một số hộ dân ở TP.HCM than phiền trên mạng xã hội và báo chí chính thống rằng họ vừa phải đóng khoản tiền điện cao gấp đôi hoặc gấp ba tháng trước. Một số báo chính thống cho biết việc giá điện tăng, và việc người dân dùng thêm điện trong mùa hè, khiến giá tiền điện mà họ phải trả tăng theo thang lũy tiến 6 bậc, đã cộng với nhau để tạo ra khoản tăng bất ngờ này. Họ cũng trách lãnh đạo Bộ Công thương “khôn”, khi chỉ công bố mức giá mới tính theo Bậc 1, trong khi giá điện của bậc cao hơn đã tăng dáng kể do phải nhân với tỉ lệ lũy tiến.

Những diễn biến này đã khiến một làn sóng công kích ngành điện Việt Nam hình thành trên mạng xã hội, và kéo dài từ ngày 25/04 đến nay. Ngoài lời chê trách mà báo chí chính thống đã đưa ra, những người công kích còn sử dụng 5 lập luận khác.

Thứ nhất, họ nghi ngờ phát biểu của các quan chức ngành điện, rằng “phải tăng giá điện để tăng đầu tư cơ sở vật chất cho ngành”, vì 2 lý do. Một, là tập đoàn EVN từng “chi sai mục đích”, “đội giá khống công trình”, “thua lỗ khi đầu tư trái ngành” nhiều lần, khiến tiền đầu tư bị lãng phí do quản lý kém hoặc “tham nhũng”. Hai, là vì các ngành công nghiệp nặng đang được hưởng mức giá điện thấp nhất nhờ cơ chế “bù chéo”, dù dùng 55% tổng lượng điện quốc gia, hiện “người dân đang phải bù chéo tiền điện cho doanh nghiệp công nghiệp nặng”, không thể gánh thêm các khoản tiền khác.

Thứ hai, để phản bác tuyên bố của Bộ Công thương, rằng giá điện Việt Nam vẫn đang ở mức thấp nhất thế giới, họ nói rằng nếu muốn so sánh, phải so tỉ lệ giá điện trên thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam với ở các nước.

Thứ ba, họ coi việc tập đoàn EVN tùy tiện tăng giá là một hình thức trục lợi từ độc quyền.

Thứ tư, họ nói rằng nếu muốn tăng giá điện đề bù chi phí, trước tiên EVN cần minh bạch chi phí sản xuất, truyền tải và phân phối điện. Trong cùng hướng đòi minh bạch, báo Thanh Niên giật title sai sự thật, khi viết rằng Bộ Công thương đang muốn “Giá điện sẽ được đóng dấu mật”. Thực ra Bộ Công thương chỉ đang lấy ý kiến về “Danh mục Bí mật Nhà nước” của ngành, trong đó “phương án chỉ đạo, điều chỉnh giá điện chưa công bố” nằm trong số 30 thông tin thuộc loại mật, chứ Bộ không định giữ bí mật giá điện như mô tả của báo Thanh Niên.

Thứ năm, họ tuyên truyền rằng việc tăng giá xăng, giá điện và thuế VAT vào những thời điểm sát nhau sẽ gây lạm phát, đẩy người dân vào cảnh “khốn cùng và uất ức”, “tức nước vỡ bờ”, chuyển sang chống chế độ.

Hiện một số phóng viên bất mãn, như Mai Quốc Ân và Hoàng Nguyên Vũ, đang dẫn dắt dư luận mạng xã hội trong hướng tuyên truyền này. Mai Quốc Ân cũng kêu gọi in áo có dòng chữ “Tôi phản đối tăng giá điện để bù lỗ vào đầu tư trái ngành của EVN”.

Về phía giới chống đối, Trịnh Kim Tiến đang kêu gọi cộng đồng “gọi điện thoại để chất vấn Sở Điện lực” về hóa đơn tiền điện của mình. Chồng Tiến, là Nguyễn Hồ Nhật Thành, vừa lập fanpage “Phản đối tăng giá điện – độc quyền kinh doanh điện”.

Như vậy, luồng dư luận này sẽ xoay quanh 4 vấn đề trọng tâm – là độc quyền; minh bạch thông tin; lạm phát; và cảm giác “khốn cùng” do lạm phát, “uất ức” vì bị tước đoạt của bộ phận dân nghèo.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi thấy có thể thông cảm với việc dư luận đề nghị EVN gia tăng minh bạch thông tin. Đề nghị này không trái pháp luật Việt Nam, và cũng phù hợp với các diễn biến mới của chiến dịch chống tham nhũng. Tuy nhiên, để đánh giá 3 thông điệp còn lại mà dư luận phi chính thống đang đưa ra, có lẽ chúng ta nên xem xét những ý kiến có phần trái chiều của Lê Diễn Đức, Kien Dinh và Hoàng Tư Giang.

Trước tiên, bằng những số liệu cụ thể, Lê Diễn Đức đã chỉ ra rằng giá điện của Việt Nam đang thấp hơn hầu hết các nước trên thế giới, bao gồm cả Lào và Campuchia. Ông Đức cũng lưu ý rằng vì giá điện phụ thuộc nhiều vào kinh phí sản xuất, không thể nói rằng giá điện ở Việt Nam phải thấp hơn Mỹ vì người Việt Nam nghèo hơn người Mỹ:

(Ảnh 01)

Tiếp đó, theo lời Kien Tran, chính Ngân hàng Thế giới đã nhận xét rằng EVN đang thua lỗ vì để giá điện thấp, và khuyên EVN nên tăng giá điện từ năm nay để bù lỗ:

(Ảnh 02)

Hoàng Tư Giang cho biết theo ý kiến của các chuyên gia, thì giá điện của Việt Nam đang quá thấp, và khi Việt Nam chuyển sang dùng năng lượng tái tạo thì tăng giá điện là điều hiển nhiên:

(Ảnh 03)

Ông Giang cũng nhận xét rằng Nhà nước Việt Nam đang cung cấp điện theo cơ chế bao cấp, để người nghèo có thể dùng điện, và để doanh nghiệp ở Việt Nam có chi phí thấp, tạo lợi thế cạnh tranh:

(Ảnh 04)

Như vậy, nếu EVN từ bỏ việc độc quyền cung cấp điện, để ngành điện Việt Nam vận hành theo quy luật kinh tế thị trường, thì giá điện ở Việt Nam sẽ còn tăng cao hơn hiện nay. Nếu dư luận phi chính thống nhất quyết đòi EVN từ bỏ độc quyền, họ nên chấp nhận điều đó. Còn về vấn đề lạm phát, cần lưu ý rằng chính dư luận kích động, hoảng loạn về giá điện sẽ khiến lạm phát diễn ra trầm trọng hơn.

 

Sóng truyền thông số 2:

Đám giỗ chế độ Việt Nam Cộng hòa năm nay không có gì mới

Ngày 30/04/2019 là dịp kỷ niệm 44 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhân dịp này, các tổ chức, cá nhân chống đối đã đồng loạt tuyên truyền theo hướng phủ nhận ý nghĩa giải phóng dân tộc của cuộc chiến, đồng thời ca ngợi chế độ Việt Nam Cộng hòa cũ là bên có “chính nghĩa” hơn.

Như mọi năm, dư luận phi chính thống trong dịp này chia thành hai cánh, là cánh ca tụng Việt Nam Cộng hòa và cánh kêu gọi “hòa giải dân tộc”. Năm nay, cánh ca tụng Việt Nam Cộng hòa chiếm ưu thế áp đảo, trong khi cánh còn lại chủ yếu tụ quanh nhóm Nguyễn Gia Kiểng và nhóm Trương Huy San. Cả hai cánh không đưa ra thông điệp tuyên truyền nào mới, chủ yếu chỉ nhắc lại các thông điệp mà họ dùng hằng năm.

Nếu xét riêng trên các đài nước ngoài phát sóng bằng tiếng Việt, có thể thấy các bài tuyên truyền năm nay tập trung ca ngợi chế độ Việt Nam Cộng hòa cũ là bên thịnh vượng hơn, có “chính nghĩa” hơn, qua đó phủ nhận ý nghĩa giải phóng dân tộc của cuộc chiến. Để đưa ra thông điệp này, họ chủ yếu dùng 2 lập luận.

Thứ nhất, họ so sánh điều kiện sống thời Việt Nam Cộng hòa với điều kiện sống của cả nước sau thống nhất, để khẳng định rằng chế độ này ưu việt hơn. Có 5 thành tựu của chế độ VNCH được họ đem ra so sánh. Một, là “nền dân chủ đa đảng”, “pháp quyền”, “có khuynh hướng kỹ trị”. Hai, là “xã hội dân sự” phát triển, với việc dân chúng được tự do thành lập các hiệp hội và công đoàn độc lập, tự do ra báo, tự do biểu tình…Ba, là mô hình kinh tế thị trường, kèm theo các con số về mức tăng trưởng kinh tế, mức sản lượng hằng năm, và ảnh chụp đường phố có nhiều xe hơi… Bốn, là chất lượng giáo dục. Năm, là những thành tựu văn hóa như văn chương, âm nhạc, thời trang.

Để thực hiện phép so sánh giữa hai miền Nam – Bắc, BBC viết bài có tựa đề “Sau năm 1975, cả nước Việt Nam đói nặng”, nhằm tạo ấn tượng rằng miền Bắc thắng lợi trong chiến tranh, nhưng đã thua trong việc quản trị đất nước vào thời bình.

Thứ hai, họ viện một số lý do để biện hộ cho thất bại của chế độ VNCH trong chiến tranh. Chẳng hạn, có bài nói miền Bắc thắng là do được Trung Quốc và Liên Xô hỗ trợ, còn miền Nam thua là do “bị đồng minh Mỹ bỏ rơi”; có bài nói miền Bắc thắng do “toàn trị”, “tuyên truyền dối trá”…

Ngoài hướng tuyên truyền chính vừa nêu, giới chống đối cũng khai thác các mâu thuẫn giữa các “thương bệnh binh VNCH” với chế độ, thông qua việc nhắc lại chuyện “thuyền nhân”, chuyện các trại cải tạo, hoặc đưa tin về vụ Nguyễn Văn Diệu Linh kêu “bị đánh”.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi nghĩ các fan cuồng của chế độ VNCH nên sống thực tế hơn. Nếu VNCH có “nền dân chủ đa đảng” và “pháp quyền”, thì tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã không lên ngôi bằng cách ám sát tổng thống Ngô Đình Diệm. Nếu VNCH có quyền tự do tôn giáo, tự do lập hội, thì đã không có chính sách thiên vị người Công giáo và chiến dịch đàn áp Phật giáo, khiến ông Thích Quảng Đức tự thiêu. Về quyền tự do báo chí, chỉ trong 1 năm rưỡi tính từ đầu năm 1970, VNCH đã tiến hành 660 vụ tịch thu đối với nhật báo và 295 vụ đối với báo định kỳ. Riêng tháng 06/1971 có đến 75 vụ và không ngày nào là không có tịch thu báo.

Vậy vì sao kinh tế VNCH phát triển? Wikipedia đã trích lời Đặng Phong và William J. Lederer, để chỉ ra một góc khuất của vấn đề này, như sau:

 

Chế độ VNCH giàu, đó là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, họ không giàu nhờ sản xuất và sáng tạo, mà giàu nhờ làm lính đánh thuê cho Mỹ – một việc vừa không lấy gì làm cao đẹp, vừa góp phần gây ra thảm kịch của nhiều gia đình Việt Nam trong chiến tranh. Chất lượng của nền giáo dục VNCH là điều không thể phủ nhận, nhưng ta cần lưu ý rằng đó là di sản của nền giáo dục Pháp, chứ không phải của chế độ VNCH. Tương tự, cần lưu ý rằng di sản âm nhạc của VNCH không nằm ở những bài hát ca ngợi chế độ, mà đến từ những nhạc sĩ như Phạm Duy hay Trịnh Công Sơn, vốn có tư tưởng phản chiến.

Có ít nhất 3 lý do khiến nhiều nhóm “dân chửi” trong nước lưu luyến chế độ VNCH. Thứ nhất, họ ngày càng lệ thuộc vào tiền tài trợ của các nhóm cờ vàng hải ngoại. Thứ hai, tương lai của họ tối đen, khiến họ có khuynh hướng dựa dẫm vào hào quang trong quá khứ. Thứ ba, những bức ảnh ca ngợi sự giàu có của chế độ cũ không phải không có sức thuyết phục với nhiều bạn trẻ thiếu hiểu biết, lười tìm hiểu ở Việt Nam.

Tuy nhiên, khi chọn một chế độ lệ thuộc, tham nhũng, phản dân chủ và thua cuộc làm thần tượng, họ không tránh khỏi lặp lại thất bại của tiền nhân, do không rút ra được bài học, cũng không nhìn thấy những điều mới.

 

Sóng truyền thông số 3:

Có thể mượn chuyện biển đảo để phê phán Đại tướng Lê Đức Anh không?

Ngày 22/04/2019, Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã từ trần, hưởng thọ 99 tuổi. Trong tuần qua, giới chống đối đã tận dụng sự kiện này để công kích cá nhân cố lãnh đạo, đồng thời bôi nhọ, hạ uy tín, hạ niềm tin của người dân vào Nhà nước.

Các hoạt động tuyên truyền của họ bao gồm 4 hướng chủ đạo.

Thứ nhất, họ nhắc lại những tin đồn hoặc nhận định gây tranh cãi về cuộc đời, sự nghiệp của Đại tướng Lê Đức Anh, như việc ông “khai man lý lịch để vào Đảng”, “ra lệnh binh sỹ không nổ súng khi Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma vào năm 1988”, và “được cho là người bảo trợ chính cho cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng” (trích bài phỏng vấn Cù Huy Hà Vũ trên VOA).

Thứ hai, khi ông Lê Mạnh Hà, con trai Đại tướng Lê Đức Anh, viết một status trên Facebook về việc Đại tướng từ trần, giới chống đối đã đồng loạt dùng chức năng “bày tỏ cảm xúc” của Facebook để chế nhạo status đó. Cụ thể, Chu Hồng Quý đếm rằng sau 21 giờ, status đó có “1.589 haha, 836 thích, 325 buồn, 93 yêu, 38 wow, 29 phẫn nộ trên tổng cộng 2.911 người bày tỏ cảm xúc”, và “423 comment chửi” bị xóa trên tổng cộng 463 comment.

Thứ ba, họ tuyên truyền rằng khi thế hệ lãnh đạo cũ, trưởng thành từ chiến tranh qua đời, thế hệ lãnh đạo mới sẽ “thiếu tính chính danh”, dẫn đến sự suy yếu của chính thể.

Thứ tư, Chu Vĩnh Hải tung tin rằng Đại tướng Lê Đức Anh “có một khuôn viên rộng 4000 m2 ở quê nhà Thừa Thiên – Huế”, nên có thể sẽ được an táng tại đó, trong khi đất nước vẫn còn nhiều “cháu bé đói khát”. Trong hướng tuyên truyền này, Chu Vĩnh Hải định tái hiện một sóng truyền thông về phần mộ diện tích lớn, như từng xảy ra trong tang lễ cố Chủ tịch nước Trần Đại Quang.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 3 ý kiến.

Thứ nhất, trong cuộc tranh luận về diễn biến của trận hải chiến Gạc Ma, đã có nhiều người đưa ra bằng chứng để khẳng định rằng cấp chỉ huy trận này chỉ ra lệnh “không được bắn trước”, chứ không phải lệnh “không được bắn. Bằng chứng đầu tiên là việc binh sĩ Việt Nam được phát vũ khí đầy đủ, và đã bắn trả để tự vệ, khiến phía Trung Quốc có 9 người chết và 13 người bị thương, trong khi Việt Nam giữ được bãi đá Cô Lin. Bằng chứng thứ hai là việc ngay sau trận đánh, Nhà nước Việt Nam đã mạnh mẽ lên án việc Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam:

 

Từ đó đến nay, lượng điểm đảo mà Việt Nam chiếm giữ được chỉ tăng lên chứ không giảm đi. Cụ thể, chỉ 1 tháng sau trận Gạc Ma, Việt Nam đã dùng máy bay Su-22 yểm trợ công binh chiếm lại bãi đá Len Đao, khiến Trung Quốc không dám nổ súng ngăn cản. Sau đó, Việt Nam chiếm được thêm 10 bãi đá trong giai đoạn 1990 – 2008, và 18 bãi đá trong giai đoạn 2008 – 2014. Theo báo cáo của chính phủ Mỹ, thì vào năm 2015, Việt Nam đã kiểm soát 48 điểm trên quần đảo Trường Sa, cao gấp đôi so với năm 1990. Trong khi đó, ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc chiếm 8 điểm, Đài Loan chiếm 1 điểm, Philippines chiếm 8 điểm, Malaysia chiếm 5 điểm.

Qua những con số trên, có thể thấy Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh hải, và đã đạt được nhiều thành tựu thuộc lĩnh vực này trong thời Đại tướng Lê Đức Anh. Mượn chuyện biển đảo để phê phán Đại tướng Lê Đức Anh là không hợp lý.

Thứ hai, Chu Vĩnh Hải đã đưa ra một phỏng đoán sai sự thật, khi viết rằng Đại tướng Lê Đức Anh được an táng trong một khuôn viên rộng 4000 m2. Ngày 28/04, các báo chính thống đã đưa tin rằng Đại tướng sẽ được an táng trong một ô mộ thông thường tại Nghĩa trang TP.HCM, bên cạnh các đồng đội. Ngoài ra, Chu Vĩnh Hải nên nhớ rằng theo quy luật kinh tế thị trường, gia đình Đại tướng có toàn quyền sử dụng khu đất riêng của họ, dù Việt Nam có còn nhiều “cháu bé đói khát” hay không.

Thứ ba, cách hành xử của giới “dân chửi” trên trang Facebook của gia đình người đã khuất phản ánh nhân cách của họ. Họ đã chứng minh rằng kẻ hô hào nhân quyền chưa chắc đã biết tôn trọng sự sống.

 

Sóng truyền thông số 4:

Sau khi các tin đồn về tình hình sức khỏe của Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng xuất hiện trên mạng xã hội từ ngày 14/04/2019, trong tuần qua, đã có một số sự kiện ủng hộ tin đồn này. Đó là việc Chủ tịch không tiếp đoàn khách từ Thượng viện Mỹ như dự định, và việc lãnh đạo Việt Nam sang Trung Quốc dự Diễn đàn “Vành đai – Con đường” lần thứ 2 sẽ là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Trước những diễn biến này, đầu tuần cuối tháng 04/2019, các hoạt động đồn đoán về tình hình sức khỏe của Chủ tịch trong dư luận phi chính thống đã diễn biến theo hai hướng khác nhau.

Hướng thứ nhất, quy tụ phần nhỏ hơn của dư luận, cho rằng Chủ tịch “giả ốm”. Chẳng hạn, một số cá nhân đồn đoán rằng Chủ tịch “bắt chước Tư Mã Ý”, “giả chết bắt quạ” trong chiến dịch chống tham nhũng; trong khi số khác đoán rằng Chủ tịch “giả ốm để tránh bị ám sát khi thăm Trung Quốc như ông Trần Đại Quang”.

Hướng thứ hai, quy tụ hầu hết các thành phần chống đối bất mãn, tuyên truyền rằng các diễn biến vừa nêu cho thấy Chủ tịch ốm thật, và Nhà nước Việt Nam sắp rơi vào tình trạng “khủng hoảng kế nhiệm”, “nhiễu loạn”, “đấu đá phe cánh”, hoặc sắp “thỏa hiệp hơn với phương Tây về vấn đề cải cách thể chế và cải thiện dân chủ nhân quyền” để “giữ sinh mạng chính trị và tài sản”. Nguyễn Khắc Giang, CLB Lê Hiếu Đằng và nhóm Phạm Chí Dũng dẫn đầu các hoạt động tuyên truyền theo hướng này.

Cụ thể, Nguyễn Khắc Giang viết một bài có tựa đề “Có phải Việt Nam đang dần rơi vào cuộc khủng hoảng kế nhiệm?”, đăng trên The Diplomat.

CLB Lê Hiếu Đằng viết “Lời kêu gọi cảnh giác”, trong đó họ công kích rằng việc Nhà nước “giữ im lặng” về tình hình sức khỏe của Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cho thấy “các thế lực cầm quyền” đang “vô trách nhiệm với dân”, đang “toan tính những nước cờ sao cho lợi thế thuộc về mình”, dù sự im lặng này có thể khiến “xã hội nhiễu loạn”, “nhân dân mất niềm tin” và “Trung Quốc động binh”. Họ cũng công kích rằng việc “bảo vệ bí mật quốc gia” đối với thông tin về sức khỏe của các lãnh đạo là “lố bịch” và “phản dân chủ”.

Trong khi đó, Phạm Chí Dũng định hướng dư luận rằng thông tin về tình hình sức khỏe của Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã được các “blogger tay trong”, thuộc “phe cánh chính trị” tung ra để phục vụ việc “đấu đá”, “tương tự trong các vụ việc Nguyễn Bá Thanh vào năm 2014, Phùng Quang Thanh vào năm 2015, Trần Đại Quang vào hai năm 2017 và 2018”. Dũng cũng tung tin rằng nếu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không đủ sức khỏe để tiếp tục lãnh đạo, thì “các nhân vật còn lại trong Bộ Chính trị”, “với tư duy thực dụng”, sẽ “thỏa hiệp hơn với phương Tây về mặt cải cách thể chế”, dẫn đến thay đổi chế độ ở Việt Nam.

Sau khi Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin về tình hình sức khỏe của Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vào chiều 25/04/2019, hướng tuyên truyền này giảm tầm ảnh hưởng.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 2 ý kiến.

Thứ nhất, trong nửa tháng mà Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nghỉ ngơi, xã hội và bộ máy nhà nước của Việt Nam vẫn vận hành bình thường, không có biến động. Việc này không khó hiểu: bộ máy chính trị của Việt Nam được thiết kế để không quá lệ thuộc vào một cá nhân. Vì vậy, không có bằng chứng thực tế nào cho thấy tình hình sức khỏe của Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng có thể khiến Việt Nam rơi vào tình trạng “khủng hoảng kế nhiệm”, “nhiễu loạn”, “đấu đá phe cánh”, “thay đổi thể chế” như giới “dân chửi” tuyên truyền. Đáng tiếc, dù nói nhiều, lời lẽ của họ chỉ là những đồn đoán mà bọn ăn hơi nồi chõ truyền tai nhau, để có bánh vẽ ăn tạm trong lúc đói hy vọng, đói tiền tài trợ.

Thứ hai, độ hóng quá cao của giới “dân chửi” trong sự kiện này cho thấy họ là phường cơ hội chính trị, bị lệ thuộc vào các biến cố thời sự ngẫu nhiên và thái độ của nước ngoài, chứ có rất ít năng lực tự thân. Là những nô lệ của tình thế và của nước ngoài, họ có rất ít tư cách đòi tự do cho người Việt.

 

Sóng truyền thông số 5:

Đoan Trang lại thách thức công an để câu khách?

Trong tuần cuối tháng 04/2019, nhóm Green Trees đã tiến hành một số hoạt động quảng bá cuốn sách “Phản kháng phi bạo lực” của Phạm Đoan Trang, vì nhiều mục đích.

Cụ thể, đầu tháng 08/2017, Phạm Đoan Trang soạn xong một cuốn sách mang tên “Phản kháng phi bạo lực”. Đây là một sổ tay dày hơn 60 trang, hướng dẫn cách phát động một cuộc cách mạng đường phố dưới hình thức “phi bạo lực” để lật đổ Nhà nước. Ở lời nói đầu, Trang cho biết sách được xây dựng dựa trên nội dung cuốn “Bản thiết kế cho cuộc Cách mạng” của Srdja Popovic, người lãnh đạo phong trào Otpor ở Serbia; và được Trang minh họa bằng các ví dụ từ hoạt động của giới chống đối ở Việt Nam. Sách được ra mắt như một hoạt động của nhóm Hate Change, và được bán trên Amazon từ ngày 19/10/2017.

Ngày 27/03/2019, cơ quan công an tạm giữ Cao Vĩnh Thịnh, một thành viên trong nhóm Green Trees của Phạm Đoan Trang, để hỏi về 3 vấn đề – là phim tài liệu “Đừng sợ”, dự án VOT Radio, và dự định in cuốn “Phản kháng phi bạo lực”. Ngày 20/04, Đoan Trang viết một bài mang tên “Hãy bắt tôi, nếu có thể”, để hô hoán trên Facebook rằng Trang “là người bỏ tiền ra để in cuốn sách, nhờ Cao Vĩnh Thịnh tìm chỗ in”, chứ Thịnh và các nhà sách không có liên quan sâu đến việc đó.

Tuy nhiên, nếu nghĩ kỹ, ta sẽ thấy khả năng Đoan Trang viết bài này để “đỡ đạn” hộ Cao Vĩnh Thịnh rất khó xảy ra. Công an đương nhiên phải chú ý đến Trang hơn Thịnh ngay từ đầu, vì người soạn sách là Trang, chứ không phải là Thịnh. Vì vậy, người đọc có quyền nghi ngờ rằng Đoan Trang viết bài vì một số mục đích khác – như che giấu đường dây in sách, hoặc đánh bóng tên tuổi cho Green Trees và cho bản thân Trang. Qua việc Green Trees loay hoay đổi tên phim tài liệu – từ “Đừng sợ” thành “Sợ” – để được tiếp tục lên báo khi sự kiện đã qua, có thể thấy động lực tự đánh bóng tên tuổi này là có thật.

Dù gì đi nữa, cuốn “Phản kháng phi bạo lực” cũng là tiết lộ những lời nói dối của Phạm Đoan Trang. Nội dung sách cho thấy Trang chỉ lợi dụng những hoạt động dân sinh – như “đánh BOT” hoặc bảo vệ môi trường – làm vỏ bọc và cần câu khách để phục vụ mục đích lật đổ Nhà nước Việt Nam, một mục đích không phù hợp với quy định của pháp luật.

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author