Điểm tin lề trái số 46:           Những góc khuất trong dư luận về vụ kiện của Trịnh Vĩnh Bình

Điểm tin lề trái số 46:            Những góc khuất trong dư luận về vụ kiện của Trịnh Vĩnh Bình

Overview

 

Chào các bạn. Đây là chương trình Điểm tin Lề trái số 46, soạn vào ngày Chủ nhật, 14/04/2019. Như thông lệ, chúng tôi sẽ điểm lại những sóng truyền thông lề trái trong tuần này, và chỉ ra những sự thật thú vị mà các bạn chưa chú ý trong mỗi sóng.

 

Sóng truyền thông số 1:

Vụ dàn khoan Đông Phương 13-2 CEPB: lại “chống Trung Quốc” bằng tin giả

Trong tuần qua, một số tổ chức, cá nhân chống đối đã tìm cách kích động tâm lý bài Trung Quốc cực đoan, rồi sử dụng nó để tìm cách tác động đến chính sách đối ngoại của Việt Nam, hoặc để tuyên truyền chống Nhà nước. Họ đã khai thác hai vấn đề thời sự, là khả năng có doanh nghiệp Trung Quốc tham gia đấu thầu dự án xây dựng đường cao tốc Bắc – Nam, và việc Trung Quốc đưa dàn khoan dầu Đông Phương 13-2 CEPB vào Biển Đông.

Cụ thể, ngày 07/04/2019, Tân Hoa Xã đưa tin rằng dàn sản xuất dầu khí lớn thứ hai của Trung Quốc, mang tên Đông Phương 13-2 CEPB, sẽ được kéo vào lưu vực Yinggehai tại Biển Đông vào ngày 10/04. Ngày 08/04, một số trang tin nước ngoài như VOA tiếng Việt bắt đầu đưa tin về diễn biến này, khiến dư luận chú ý. Ngày 09/04, trang tin điện tử Motthegioi.vn đưa tin rằng “Trung Quốc đưa giàn khoan đến sát đường phân định vịnh Bắc Bộ”, khiến dư luận lo lắng về sự kiện. Sáng 10/04, một số người dùng Facebook đã tung tin đồn rằng theo hãng tin quốc tế Reuters, thì dàn khoan Đông Phương 13-2 CEPB đang “tiến vào vùng biển Quảng Bình” “thuộc chủ quyền của Việt Nam”, đồng thời đưa ra một bản đồ để chứng minh điều này; trong khi Reuters không đưa tin có nội dung như vậy, và bản đồ mà họ đưa ra là giả. Ngoài ra, Phạm Chí Dũng tung ra lời phỏng đoán rằng dàn khoan Đông Phương 13-2 CEPB có thể “tái diễn” hiệu ứng mà dàn khoan Hải Dương 981 từng gây ra năm 2014, để định hướng dư luận theo hướng kích động.

Ngay trong ngày 10/04, một số gương mặt trong dư luận phi chính thống như Bạch Hoàn và Nguyễn Chí Tuyến đã cảnh báo rằng “thông tin Đông Phương 13-2 CEPB đã xâm phạm chủ quyền biển Việt Nam là tin giả”, vì trong thực tế, giàn khoan này neo đậu trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, chứ không xâm phạm hải phận Việt Nam hoặc khu vực thăm dò, khai thác chung mà hai nước đã thỏa thuận. Vì các báo chính thống cũng phủ nhận tin giả vào cùng ngày, trong phần sau của tuần, vấn đề này hầu như không còn được nhắc đến.

Cũng trong tuần qua, các nhân vật khoa bảng thân Diễn đàn Xã hội Dân sự tiếp tục tiến hành chiến dịch tuyên truyền phản đối “yếu tố Trung Quốc” trong dự án đường cao tốc Bắc – Nam, mà họ đã khởi lên từ cuối tháng 03/2019. Cụ thể, Mạc Văn Trang viết trên báo Tiếng Dân rằng Bộ Giao thông – Vận tải đang “vội vã” triển khai dự án này dù “không có Nghị quyết của Quốc hội”; rằng dự án này là không cần thiết khi chưa hoàn thành và khai thác hết đường Hồ Chí Minh; rằng “không thể cho nhà thầu Trung quốc tham gia” dự án vì các vấn đề mà “dư luận xã hội đã nêu”; và rằng nên thuê nhà thầu từ Nhật hoặc các nước phương Tây để đảm bảo chất lượng công trình, đồng thời “đa phương hóa quan hệ”. Trong khi đó, Nguyễn Quang Dy viết trên trang Viet-Studies rằng nếu cho doanh nghiệp Trung Quốc tham gia đấu thầu dự án, Nhà nước Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều nguy cơ an ninh; sẽ rơi vào “bẫy nợ” của Trung Quốc; sẽ bị dư luận của “những người yêu nước” phản đối; và sẽ gửi “một tín hiệu chống Mỹ”, trong khi Mỹ và Trung Quốc đang ở trong “một cuộc chiến tranh lạnh mới”, mà Trung Quốc chắc chắn thua.

Trong hai bài vừa nêu, bài của Mạc Văn Trang đã đưa ra một thông tin sai. Trong thực tế, ngày 22/11/2017, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết xây dựng đường bộ cao tốc Bắc – Nam, với trên 83% đại biểu nhất trí.

Việc dùng tin tức giả để tuyên truyền chính trị, dù để phục vụ mục đích hay lý tưởng nào, cũng là điều không thể chấp nhận. Bởi những lý tưởng cần được bảo vệ bằng thông tin sai sự thật thì chỉ là ảo tưởng; những mục đích cần đạt được bằng thông tin sai sự thật thì chỉ là bánh vẽ. Vì vậy, khi Đài Tiếng nói Hoa Kỳ đăng bài viết của Phạm Chí Dũng, trong đó Dũng kích động biểu tình bằng tin tức giả, ta thấy họ bất chấp sự thật để đạt được mục đích của mình. Riêng trong vụ việc này, ta có thể hoan nghênh thái độ không đồng lõa với tin giả, chủ động chặn tin đồn thất thiệt của một số gương mặt “lề trái” như Bạch Hoàn và Nguyễn Chí Tuyến.

Về dự án đường cao tốc Bắc – Nam, dư luận có lý do để lo ngại rằng nhà thầu Trung Quốc sẽ mang đến nguy cơ an ninh, nguy cơ tham nhũng và nguy cơ không đảm bảo chất lượng cho dự án. Nhưng để vừa ngăn chặn những nguy cơ này một cách lâu dài, vừa giữ cho mình một tư thế ngoại giao độc lập, đàng hoàng và thân thiện với tất cả các bên, có lẽ Việt Nam nên thắt chặt quản lý trong khâu đấu thầu và chấm thầu, thay vì chọn cách hành xử thô vụng là mời nhà thầu phương Tây, đuổi nhà thầu Trung Quốc.

Theo nguyên tắc của nền kinh tế thị trường, Việt Nam có quyền cho phép mọi doanh nghiệp tham gia đấu thầu các dự án công của mình. Vì vậy, không thể nói rằng khi Việt Nam cho phép một doanh nghiệp Trung Quốc tham gia đấu thầu dự án xây dựng đường cao tốc Bắc – Nam, Việt Nam đang gửi “một tín hiệu chống Mỹ”, như cách ông Nguyễn Quang Dy mô tả. Với thái độ sợ Mỹ, cầu cạnh Mỹ một cách quá đáng như vậy, ông Dy sẽ không đóng góp được nhiều ý kiến có ích cho nền độc lập của Việt Nam.

 

Sóng truyền thông số 2:

Giới phóng viên bất mãn nói gì về lộ trình “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí”?

Ngày 03/04/2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký quyết định phê duyệt “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025”. Trong tuần qua, nhiều phóng viên hoặc cựu phóng viên bất mãn – như Tâm Chánh, Ngọc Vinh, Trương Huy San, Mai Phan Lợi – đã viết bài hoặc trả lời phỏng vấn để công kích lộ trình quy hoạch đó.

Cụ thể, khi bàn về nguồn gốc bản chất của đọt quy hoạch, Tâm Chánh (cựu Tổng Biên tập báo Sài Gòn Tiếp thị) và Ngọc Vinh (thư ký tòa soạn báo Tuổi Trẻ) đã nói với BBC rằng“thực chất đây là một bản kế hoạch cắt giảm các cơ quan báo chí”, “được thực hiện bằng quan điểm coi báo chí là công cụ tuyên truyền của Đảng”. Trong khi đó, Trương Huy San viết rằng “đây là sáng kiến của cặp đôi Bắc Son – Tấn Dũng”, thể hiện tư duy của hai cựu lãnh đạo này, và đã “gây không ít lúng túng cho những người kế nhiệm”.

Khi bàn về hậu quả của đợt quy hoạch, Tâm Chánh và Ngọc Vinh nêu ra 2 nguy cơ. Thứ nhất, quá trình tập trung hóa quyền lực sẽ khiến tham nhũng sẽ nảy sinh, do các cơ quan báo chí đua nhau “vận động ngầm” để được tiếp tục hoạt động, còn các cơ quan Nhà nước thì sẵn sàng bán tư cách phụ san, hoặc bán “một số cơ quan báo chí có tiềm lực” cho các doanh nghiệp. Thứ hai, đề án này sẽ “thu hẹp hoạt động của báo chí, và dĩ nhiên thu hẹp quyền ngôn luận của người dân”. Trong khi đó, luật sư Nguyễn Văn Thịnh bình luận rằng đợt quy hoạch sẽ “làm méo mó, thui chột” chức năng “phản ánh sự thật”, “đấu tranh vì lẽ phải”, “phản biện”… của báo chí. Ngoài ra, Tâm Chánh nói rằng vì báo chí ở TP.HCM đã tạo thành một thị trường tự vận hành, thay vì lệ thuộc vào ngân sách của Nhà nước, báo giới của thành phố này sẽ chịu ảnh hưởng nặng nhất từ đề án quy hoạch.

Khi bàn về mô hình thay thế cho đợt quy hoạch này, Tâm Chánh, Ngọc Vinh và Trương Huy San cùng đề xuất mô hình báo chí Mỹ, trong đó báo chí được xem là một ngành kinh tế vận hành theo quy luật thị trường, và các cơ quan báo chí vận hành như những doanh nghiệp. Đi xa hơn, Trương Huy San cho rằng “lẽ ra phải cấm những cơ quan đang nắm quyền lực nhà nước (hành pháp, tư pháp…) ra báo”.

Nếu giới phóng viên bất mãn muốn áp dụng mô hình báo chí Mỹ ở Việt Nam, họ nên hiểu tường tận quá trình hình thành của mô hình này. Nhìn lại lịch sử, có thể thấy nền báo chí phương Tây đã phát triển qua 3 giai đoạn.

Trong giai đoạn đầu tiên, kéo dài từ thời La Ma đến thế kỷ 18, báo chí chủ yếu là công cụ để truyền tải tin tức từ các triều đình và nhà nước đến người dân. Vì vậy, mọi tờ báo đều thuộc sở hữu của nhà nước, hoặc của các chủ xưởng in thân nhà nước.

Trong giai đoạn thứ hai, trải từ các cuộc cách mạng dân chủ tư sản hồi thể kỷ 18 đến Thế chiến II, báo chí hoạt động như những doanh nghiệp vận chuyển tin tức và bình luận, phục vụ nhiều nhóm quan điểm và lợi ích khác nhau trong xã hội. Dù vậy, khi mô hình này phát triển đến mức cực thịnh vào đầu thế kỷ 20, quá trình tích lũy và tập trung tư bản đã khiến vài nhà tư bản nắm quyền sở hữu hầu hết các tờ báo. Kết quả là báo chí hoàn toàn bị thao túng bởi đồng tiền, đến nỗi phục vụ các doanh nghiệp thay vì người dân.

Bức xúc trước tình trạng trên, giới trí thức đã nhập cuộc, để cải thiện hệ thống báo chí phương Tây bằng các bộ quy tắc đạo đức, những ủy ban thẩm định, những hiệp hội và những trường đại học báo chí. Thông qua các nỗ lực thẩm định và giáo dục, họ đã giúp báo chí trở lại làm nguồn tin tức, diễn đàn thảo luận và cửa sổ để nhìn ra thế giới của người dân; thay vì chỉ hoạt động như những kênh quảng cáo, tuyên truyền của các doanh nghiệp và đảng chính trị. Những thay đổi này mở ra giai đoạn phát triển thứ ba của báo chí phương Tây, kéo dài từ sau Thế chiến II đến nay.

Qua chặng đường lịch sử vừa nêu, ta thấy báo chí có thể được định hướng bởi 3 lực lượng – là Nhà nước, đồng tiền, hoặc các trí thức trong nghề. Nhà nước định hướng báo chí là một chuyện bình thường, đã diễn ra trong hầu hết lịch sử của báo chí. Nhìn vào bối cảnh hiện tại, ta có thể thấy đồng tiền, của cả người Việt lẫn ngoại quốc, đang chi phối và làm giảm chất lượng của nền báo chí Việt Nam. Vì vậy, chừng nào giới trí thức trong nghề báo chưa tự thiết lập được chuẩn mực cho môi trường hành nghề, thì chừng đó sự can thiệp của Nhà nước còn là một phản ứng vừa tự nhiên, vừa cần thiết để đảm bảo lợi ích chung của xã hội.

Với những lý do vừa kể, giới báo chí bất mãn nên tự trách mình đã không làm tròn trách nhiệm với nền báo chí Việt Nam, trước khi trách Nhà nước gia tăng can thiệp. Qua một vụ bê bối hồi đầu tháng 04/2019, trong đó group “Góc nhìn Báo chí – Công dân” của Mai Phan Lợi xóa mọi post phê bình Viet Jet Air, có thể thấy giới báo chí bất mãn cũng đang là nô lệ của đồng tiền, sẵn sàng hy sinh tự do ngôn luận vì tiền, chứ chẳng có tư cách phê bình người khác:

(Ảnh 01)

 

Sóng truyền thông số 3:

Những góc khuất trong dư luận về vụ kiện của Trịnh Vĩnh Bình

Sau khi vụ viện của ông Trịnh Vĩnh Bình có kết quả vào ngày 10/04/2019, nhiều tổ chức, cá nhân chống đối đã khai thác vụ việc này để tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam, đồng thời cổ vũ việc kiện Nhà nước tại tòa án quốc tế.

Cụ thể, từ năm 1981 đến năm 1990, ông Trịnh Vĩnh Bình, một Việt kiều sống ở Hà Lan, được xem là đã mang hơn 2 triệu USD và 96 ký vàng về nước để đầu tư vào nhiều lĩnh vực, như khách sạn, thủy hải sản, xuất khẩu, nông sản, rau quả, trồng rừng và nhà đất. Sau 6 năm, tài sản của ông được cho là đã tăng lên gấp 8 lần số vốn ban đầu. Ông Bình bị bắt vào năm 1996 với cáo buộc “trốn thuế”, trước khi bị Tòa án Nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên 13 năm tù vì tội vi phạm các quy định về quản lý & bảo vệ đất đai, và tội đưa hối lộ vào năm 1998. Ngoài ra, ông cũng bị tịch thu tài sản – bao gồm gần 2,5 triệu m2 đất, 11 căn nhà, và nhiều khu đất, xưởng sản xuất. Sau khi được giảm án xuống 11 năm tù trong phiên tòa phúc thẩm năm 1999, ông Bình trốn về Hà Lan, rồi nộp đơn lên Tòa án Quốc tế để khởi kiện chính phủ Việt Nam. Năm 2003, Việt Nam miễn chấp hành hình phạt tù trước đó cho ông Bình, đồng ý để ông trở lại Việt Nam, đồng thời xem xét hoàn trả cho ông một số tài sản. Tuy nhiên, năm 2015, ông Bình kiện Chính phủ Việt Nam ra Tòa án Trọng tài Quốc tế thuộc Phòng Thương mại Quốc tế (ICC), đòi bồi thường 1,25 tỷ đô la, với cáo buộc rằng chính phủ đã không trả ông bất kỳ tài sản nào như đã hứa, ngoài khoản 15 triệu USD vào năm 2005.

Ngày 10/04/2019, Hội đồng Trọng tài được thành lập theo Quy tắc Trọng tài UNCITRAL đã ban hành Phán quyết về vụ kiện của ông Trịnh Vĩnh Bình. Ngày 11/04, ông Bình nói với VOA rằng theo kết quả của phiên tòa, thì chính phủ Việt Nam phải bồi thường cho ông Bình tổng cộng hơn 37,5 triệu đôla thiệt hại và gần 7,9 triệu đôla án phí. Bình cũng nói rằng ông “hy vọng vụ kiện sẽ mở ra một con đường cho những người dân khác mất đất đai, tài sản tại Việt Nam muốn giành lại công lý”.

Đáp lại, ngày 12/04, Bộ Tư pháp Việt Nam ra thông cáo báo chí rằng “theo quy định của tố tụng trọng tài, các bên có trách nhiệm giữ bí mật Phán quyết”, và những thông tin đang xuất hiện trên Internet “phản ánh không chính xác nội dung của Phán quyết”, đồng thời chứa “những diễn giải, suy đoán chủ quan, gây hiểu nhầm trong dư luận”.

Trong tuần qua, nhiều tổ chức, cá nhân đã lợi dụng các diễn biến trên để tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam, chủ yếu theo 3 hướng.

Trong hướng tuyên truyền thứ nhất, họ mô tả vụ kiện này như một sự va chạm giữa hai trật tự pháp luật đối nghịch nhau. Một bên là trật tự “luật rừng”, luật “quan hệ, chạy chọt” ở Việt Nam, nơi Nhà nước luôn thắng kiện; và bên kia là trật tự “chỉ có công bằng” của tòa án quốc tế. Họ cũng dự đoán rằng những vụ kiện như vậy sẽ xảy ra nhiều hơn trong tương lai, do Việt Nam tham gia các hiệp ước thương mại quốc tế như CPTPP và EVFTA.

Trong hướng tuyên truyền thứ hai, Nancy Nguyễn viết: “Tiền Việt kiều, Đảng viên cướp, dân bồi thường”; trong khi Đặng Đình Mạnh và một số cá nhân khác viết những bài có ý tương tự.

Trong hướng tuyên truyền thứ ba, họ tung tin rằng Nhà nước đã tung clip sex của Trâm Anh để khiến dư luận không chú ý đến kết quả vụ kiện của Trịnh Vĩnh Bình. Tuy nhiên, khi báo chí đưa tin về vụ bắt ông Phạm Nhật Vũ và vụ cách chức con trai ông Nguyễn Bá Thanh, họ lại chuyển sang tuyên truyền rằng clip Trâm Anh được dùng để đánh lạc hướng dư luận khỏi hai vụ việc đó.

Ngoài 3 hướng tuyên truyền nổi bật vừa nêu, luật sư Hoàng Long đưa ra một bình luận đáng chú ý khác, khi nói với VOA rằng vụ việc này cho thấy “hệ thống pháp luật của Việt Nam có rất nhiều vấn đề không tương thích”, “quyền lực giữa trung ương và địa phương có sự mâu thuẫn”, khiến “các cơ quan địa phương thường diễn giải theo cách riêng của họ”, làm “những doanh nhân như ông Trịnh Vĩnh Bình gặp rất nhiều tai ương”, trong khi “chính quyền trung ương luôn khuyến khích đầu tư của Việt kiều và nước ngoài”.

Có thể thấy khi khai thác vụ việc này, các báo nước ngoài đã tập trung trích dẫn, phỏng vấn những luật sư bất mãn như Trần Vũ Hải, Ngô Anh Tuấn, Trần Quốc Thuận, Hoàng Việt.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi đồng ý với tuyên bố của Bộ Tư pháp Việt Nam, rằng những thông tin đang xuất hiện trên Internet “phản ánh không chính xác nội dung của Phán quyết”, đồng thời chứa “những diễn giải, suy đoán chủ quan, gây hiểu nhầm trong dư luận”.

Thứ nhất, vụ kiện của ông Trịnh Vĩnh Bình có bản chất là một vụ kiện đầu tư, được tiến hành trên cơ sở Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Hà Lan. Vì vậy, tiền lệ từ vụ kiện này sẽ chỉ giúp ích cho những nhà đầu tư nước ngoài có tranh chấp với Nhà nước Việt Nam, như ông Bình, chứ không giúp ích gì cho các thành phần khác từng bị thu hồi tài sản và quyền sử dụng đất.

Thứ hai, khi Trịnh Vĩnh Bình tiết lộ phán quyết của vụ kiện, ông đã thật sự vi phạm nguyên tắc của tòa án trọng tài. Bởi Điều 34 của Bộ Quy tắc Trọng tài UNCITRAL phiên bản 2010 hoặc 2013 quy định: “Phán quyết của trọng tài chỉ được công khai nếu có sự nhất trí của các bên tham gia”.

Thứ ba, luận điệu “tiền Việt kiều, Đảng viên cướp, dân bồi thường” của Nancy Nguyễn và Đặng Đình Mạnh không phản ánh đúng sự thật. Bởi khi Tòa án Nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tịch thu tài sản của ông Bình vào năm 1998, số tài sản đó đã được sung công quỹ, chứ không phải để phục vụ “Đảng viên”.

Thứ tư, phiên tòa này không “chỉ có công lý” như lời khen của Đặng Đình Mạnh, mà còn mang màu sắc chính trị rõ ràng. Trịnh Vĩnh Bình đã có một hành vi chính trị, khi đưa thông tin gây bất lợi cho Nhà nước Việt Nam lên Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, bất chấp quy định của tòa án. Ông Bình cũng thể hiện động cơ chính trị, khi mong vụ kiện sẽ truyền cảm hứng cho các thành phần “dân oan” ở Việt Nam. Chừng nào các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước Việt Nam còn bị xâm phạm vì lý do chính trị trong phiên tòa này, thì chừng đó chúng ta còn có lý do để nghi ngờ tính công bằng, nghiêm minh của tòa án quốc tế.

 

Sóng truyền thông số 4:

Khi giới “dân chửi” mượn chuyện chống quấy dối tình dục
để chống Nhà nước, và chống… nhau

Trong tuần đầu tiên của tháng 04/2019, nhân việc ông Nguyễn Hữu Linh, nguyên Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, có hành vi sàm sỡ bé gái 9 tuổi trong thang máy của một chung cư, nhiều bộ phận của dư luận phi chính thống đã lợi dụng vụ việc để công kích Nhà nước, đồng thời phục hồi phong trào ký tên đòi sửa các luật liên quan đến tội quấy rối tình dục, mà nhóm Hate Change phát động từ tháng 3. Gần 1 tuần sau sự kiện, một phần dư luận bắt đầu lo ngại trước những phương thức phản đối cực đoan, phạm pháp vừa nảy sinh – như xịt sơn, ném phân, chụp ảnh check-in trước cửa nhà ông Linh, hoặc chửi bới gia đình bé gái vì họ không khởi kiện. Do yếu tố mới này, trong tuần qua, những nhóm người khai thác sự kiện bắt đầu phân hóa thành 2 khuynh hướng khác nhau, nhưng không hẳn là đối lập nhau. Một bên là khuynh hướng ôn hòa, ưu tiên vận động sửa luật, mà nhóm Hate Change đại diện; còn bên kia là khuynh hướng cực đoan, ưu tiên công kích Nhà nước, quy tụ hầu hết giới chống đối.

Cụ thể, phần dư luận phi chính thống chọn khuynh hướng ôn hòa đang đưa ra 2 thông điệp.

Trong thông điệp thứ nhất, họ kêu gọi quần chúng “tập trung vào vấn đề thay đổi luật”, thay vì bị phân tán vào những phương thức phản đối mang tính “bạo lực”, thiếu “ôn hòa và văn minh”. Để phản bác những bài viết chửi bới gia đình nạn nhân, họ đặt câu hỏi: “Bạn đang đấu tranh cho nạn nhân hay cho lý tưởng vận động của bạn?”.

Trong thông điệp thứ hai, họ tuyên bố rằng các hoạt động “đấu tranh”, “đòi hỏi” của họ đã tạo ra thay đổi cụ thể, khi vào ngày 08/04, Tòa án Nhân dân Tối cao đã ra văn bản chỉ đạo việc tổng hợp và xây dựng báo cáo công tác xét xử các vụ án xâm hại tình dục.

Trong khi đó, phần dư luận cực đoan, ưu tiên công kích Nhà nước lại đang sử dụng 3 thông điệp khác.

Thứ nhất, họ tung tin rằng qua việc ông Nguyễn Hữu Linh chưa bị khởi tố, có thể thấy Nhà nước đang tìm cách “làm chìm xuồng” vụ việc để “bao che” cho ông Linh. Đặc biệt, một người dùng Facebook chưa rõ danh tính đã tung tin đồn rằng ngay sau khi vụ quấy rối xảy ra, ông Linh đã tìm sự “bao che” của chủ đầu tư Novaland, và trả 7 triệu VNĐ cho mẹ cháu bé để lấp liếm vụ việc. Tin đồn cũng khẳng định rằng người bảo vệ trực camera của chung cư đã “tuồn video ra ngoài”, do “không được đồng nào”. Người tung tin tuyên bố rằng nhân sự của Viện Kiểm sát Đà Nẵng đã nói với anh ta những chuyện này khi “đi nhậu”.

Thứ hai, dựa trên thông tin sai sự thật rằng Nhà nước đang tìm cách “làm chìm xuồng” vụ việc, và rằng hầu hết hung thủ “ấu dâm” ở Việt Nam là cán bộ, Đảng viên; họ tuyên truyền rằng vụ Nguyễn Hữu Linh cho thấy Nhà nước Việt Nam đang chống lại, thay vì bảo vệ, công lý và người dân. Từ đó, họ tự biện hộ rằng đám đông có quyền dùng hành vi và ngôn từ bạo lực để thể hiện sự “đau đớn” và “phẫn nộ”, và để “thực thi công lý” thay cho Nhà nước. Đồng thời, họ tìm cách lèo lái dư luận, chuyển từ chuyện “chống quấy rối tình dục” sang chuyện chống Nhà nước Việt Nam.

Thứ ba, nhân việc một số trí thức phản đối hành vi phá hoại, chửi bới của đám đông cực đoan, cánh Phạm Đoan Trang đã đẩy mạnh chiến dịch công kích cánh trí thức bất mãn của Chu Hảo, mà họ phát động từ cuối tháng 2, khi Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh giải thể. Chẳng hạn, Nguyễn Hồ Nhật Thành viết rằng thay vì “đứng trên đám đông để phán xét đám đông”, trí thức phải là những người “hòa vào đám đông để thấu hiểu”, “có mặt trong mọi ngóc ngách của xã hội, đau cái đau của đồng loại và cất lên tiếng nói của những nhóm người yếu thế”… Qua cách viết của Thành, có thể thấy cánh Phạm Đoan Trang đang muốn định nghĩa lại khái niệm “trí thức”, sao cho khớp với hình ảnh của mình.

Hiện chưa có xung đột công khai giữa Hate Change và các nhóm chống đối cực đoan, bất kể khác biệt về khẩu hiệu và chiến thuật giữa hai phía.

Sau khi xem xét vụ việc, chúng tôi xin đưa ra 3 nhận xét.

Thứ nhất, không có bằng chứng nào cho thấy Nhà nước đang định “cho chìm xuồng” vụ Nguyễn Hữu Linh, như giới “dân chửi” tuyên truyền. Ngược lại, báo chí chính thống đang khai thác vụ việc này một cách rất nhiệt tình, và nhiều cơ quan Nhà nước đang phản ứng thuận theo quan điểm của dư luận. Cụ thể, riêng trong tuần qua, Ủy ban Tư pháp Quốc hội đã đề nghị TAND Tối cao sớm có quy định cụ thể trong xét xử tội dâm ô; TAND Tối cao đã ra văn bản chỉ đạo việc tổng hợp và xây dựng báo cáo công tác xét xử các vụ án xâm hại tình dục; trong khi Nguyên Phó Chánh án TAND Tối cao Trần Văn Độ phát biểu rằng hành vi dâm ô của ông Nguyễn Hữu Linh “khá rõ ràng”, “phải khởi tố để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật”.

Thứ hai, để lèo lái dư luận, chuyển từ chuyên “chống quấy rối tình dục” sang chuyện chống chế độ, giới “dân chửi” đang liên tục tuyên truyền sai sự thật, vi phạm pháp luật và chửi bới gia đình nạn nhân. Qua những biểu hiện xấu xí này, có thể thấy họ chỉ hành động vì mục đích lật đổ chế độ, chứ không hề quan tâm đến sự thật, công lý hay quyền lợi của nạn nhân, đúng như lời nhóm Hate Change nhận xét.

Thứ ba, nếu cánh Đoan Trang chỉ công kích cánh trí thức bất mãn của Chu Hảo, chúng tôi có thể nhìn nhận rằng hai nhóm này đang tranh giành tầm ảnh hưởng với nhau. Nhưng khi cánh Đoan Trang đi xa đến mức cố định nghĩa lại khái niệm “trí thức”, như Nguyễn Hồ Nhật Thành đang làm, chúng tôi buộc phải nghĩ rằng thực ra họ đang ghen tị với những người mang danh trí thức. Cách hành xử của họ đã chứng thực một bài viết được đăng trên trang Hoàng Thị Nhật Lệ cách đây chưa lâu:

Cả từ “trí” trong tiếng Hán lẫn từ “intellectualis” trong tiếng Latin đều có nghĩa gốc là “hiểu biết”. Như vậy, “trí thức” là người có hiểu biết, chứ không phải là người đồng cảm với đám đông, hành xử thuận theo đám đông. Nếu thiền sư selfie Nguyễn Hồ Nhật Thành muốn hòa vào đám đông, xin cứ việc làm vậy, miễn đừng kéo “hiểu biết” xuống ngang tầm với mình.

 

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author