LẬT TẨY BỘ MẶT THẬT CỦA NHỮNG KẺ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

LẬT TẨY BỘ MẶT THẬT CỦA NHỮNG KẺ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

Ngày hôm nay (22-8-2017), tác giả Vũ Viết Tuân lại tiếp tục đăng bài “Sách sử Việt Nam sẽ viết về Hải chiến Hoàng Sa” nằm trong loạt bài giới thiệu những bộ sử mới viết của Đề án cấp nhà nước về biên soạn lịch sử Việt Nam. Tác giả bài báo không nói lên quan điểm của mình mà mượn lời GS. TSKH Vũ Minh Giang, một người thầy mà tôi rất kính trọng để nói về việc này. Vì thầy Vũ Minh Giang chỉ nêu lên những vấn đề nguyên tắc sử học nên tôi sẽ đi vào nội dung chính: “Hải chiến Hoàng Sa 1973”

Thực ra thì việc đưa các sự kiện lịch sử về việc Trung Quốc chiếm đóng trái phép Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979 và gây ra các cuộc xung đột trên biên giới phía Bắc Việt Nam từ 1978 đến 1988, sự kiện Trung Quốc chiếm đóng trái phép đảo/đá Gạc Ma của Việt Nam, sát hại 64 sĩ quan, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã được đang tải trên nhiều phương tiện thông tin của Nhà nước Việt Nam từ ngay khi những sự kiện ấy diễn ra cho đến nay. Vì thể, việc đưa những sự kiện đó vào sử sách của nước ta chỉ còn là vấn đề thời gian và cũng không phải là vấn đề quá mới mẻ để báo “Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh” giật tít, câu wiew, câu like, tăng lượng tirras.

Vấn đề là ở chỗ các nhà sử học sẽ mô tả và đánh giá sự kiện Trung Quốc chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam như thế nào, hải quân ngụy Sài Gòn đã đối phó ra sao và bàn tay của Mỹ trong vụ này ? Về những điểm này, bài báo không đề cập đến cho nên tôi phải nói cho rõ.

1- Các nhà sử học sẽ đánh giá thế nào về “Hải chiến Hoàng Sa” năm 1974 ?

Trước hết, phải nói thẳng rằng Hải quân Trung Quốc (PLAN) đã chiếm đóng trái phép phàn phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (nhóm đảo An Vĩnh) từ năm 1956, trong đó có hai đảo quan trọng là Phú Lâm và Lincoln. Ngụy quyền Sài Gòn khi đó dưới thời Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã không hề có một phản ứng nào để đòi lại chủ quyền của Việt Nam trên nhóm đảo này. Điều đó cho thấy, ngụy quyền Sài Gòn bận chống Cộng hơn là bảo vệ chủ quyền của Việt Nam. Điều đó cũng cho thấy ngay từ đầu, ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn đã không đủ ý chí và năng lực để bảo vệ phần lãnh thổ mà chúng đứng ra quản lý sau khi được người Pháp bàn giao.

Trong suốt cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975, hết “Chiến tranh một phía” đến “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”, ngụy quyền Sài Gòn vẫn không hề đoái hoài gì đến việc đòi lại chủ quyền ở Đông Hoàng Sa. Còn nhóm đảo phía Tây Hoàng Sa (nhóm Nguyệt Thiềm) thì ngụy quyền Sài Gòn hy vọng rằng với sự có mặt của Hạm đội Bảy của Mỹ trú đóng tại đó để tấn công miền Bắc Việt Nam (thường gọi là “Trạm Yanky”), người Trung Quốc sẽ không dám động binh. Điều này cho thấy chính sách “dựa hơi nước ngoài” của ngụy quyền Sài Gòn mà cụ thể là dựa vào quân đội Mỹ. Chính sách đó là hoàn toàn sai lầm và sẽ dẫn đến việc mất đảo một khi Mỹ “buông”. Để so sánh với sự hèn nhát, bạc nhược của chế độ ngụy Sài Gòn, chúng ta có thể dẫn ra sự từ chối thẳng thừng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối đề nghị của Mao Trạch Đông về việc để quan Trung Quốc vào giữ miền Bắc Việt Nam để Quân đội Nhân dân Việt Nam thì dốc toàn lực vào Nam chiến đấu, “thanh toán” chế độ ngụy Sài Gòn.

Đến khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ (ký tắt) và 4 bên (ký chính thức), Mỹ buộc phải rút Hạm đội Bảy khỏi biển Đông, ngụy quyền Sài Gòn vẫn không có bất kỳ một biện pháp nào để tăng cường việc bảo vệ nhóm đảo Nguyệt Thiềm mà lại tập trung vào việc phá hoại Hiệp định Paris 1973, soạn thảo và thực hiện các kế hoạch “Lý Thường Kiệt” nhằm lấn chiếm vùng giải phóng; nói như Nguyễn Văn Thiệu là “tràn ngập lãnh thổ” nhằm dùng vũ lực để giải quyết cuộc chiến. Nguyễn Văn Thiệu và các tướng tá ngụy Sài Gòn tin rằng một khi Trung Quốc tấn công, Hạm đội bảy của Mỹ sẽ quay lại “giúp đỡ” như Nixon đã hứa với Thiệu tại Honolulu tháng 11 năm 1973.

Còn đối với người Trung Quốc thì họ không muốn trực tiếp đối đầu với Mỹ nên đều lợi dụng “khoảng trống binh lực” để chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1956, họ đã lợi dụng Pháp rút khỏi Đông Dương đẻ chiếm đóng trái phép nhóm đảo An Vĩnh và đến tháng 1 năm 1974, họ cũng làm như vậy khi lợi dụng việc Mỹ rút khỏi Việt Nam để chiếm đóng trái phép nhóm đảo Nguyệt Thiềm trên quân đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

2- Một khi Mỹ “buông” thì ngụy Sài Gòn không thể bảo vệ được Hoàng Sa.

Cho đến nay, vẫn còn âm ỷ một thuyết âm mưu cho rằng Mỹ và Trung Quốc đã bắt tay thỏa thuận với nhau để Trung Quốc đưa quân chiếm nối nhóm đảo phía Tây trên Hoàng Sa của Việt Nam. Thuyết này không phải không có cơ sở: Một là Tuyên bố chung Thượng Hải tháng 2 năm 1972 ký giữa Nixon và Chu Ân Lai có nhiều điểm không rõ ràng, một số thỏa thuận ngầm giữa hai bên đã không được công khai hóa. Hai là ngay khi trận chiến ở Hoàng Sa diễn ra, Hải quân Mỹ đã không có một động tháy nào để hỗ trợ cho Hải quân ngụy Sài Gòn. Biết được tham vọng về lãnh thổ của Bắc Kinh, Washington đã gài vào quan hệ Việt – Trung một “quả bom nổ chậm”. Quả bom ấy không nhằm cứu chế độ ngụy Sài Gòn khỏi sự sụp đổ tất yếu để đến sau này, quả bom đó mới phát huy tác hại của nó khi Việt Nam thống nhất và mở rộng quan hệ quốc tế ra toàn cầu.

Các tướng tá của hải quân ngụy Sài Gòn như Hà Văn Ngạc (đại tá), Lê Văn Thự (trung tá) đều đã viết hồi ký về trận chiến ngày 19-1-1974 ở nhóm đảo phía Tây Hoàng Sa. Hồi ký của hai viên sĩ quan chỉ huy hải quân ngụy này đều thống nhất với nhau ở một điểm rằng đứng về binh lực, hải quân ngụy Sài Gòn có lực lượng và trang bị hơn hẳn hải quân Trung Quốc. Hạm đội của hải quân ngụy gồm tàu tuần dương HQ-16 Lý Thường Kiệt (2.800 tấn, trang bị 1 pháo 127mm, 6 pháo 40mm, 2 súng cối đa năng 81 mm, 4 súng máy 20mm), các tàu khu trục HQ-5 Trần Bình Trọng (2.800 tấn, trang bị 1 pháo 127mm, 10 pháo 40mm, 6 súng máy 20 mm), HQ-4 Trần Khánh Dư (1.600 tấn, trang bị 3 pháo 76,2mm, 2 pháo 40mm, 8 súng máy 20mm, hệ thống Destroyer Escort Radar bắn bắt và khóa mục tiêu rất hiện đại) và tàu hộ tống HQ-10 Nhật Tảo (trang bị 1 pháo 76,2mm, 4 pháo 40mm và 6 súng máy 20mm).

Thế nhưng cái hạm đội hùng hậu ấy đã thất trận trước 2 tàu chống ngầm 6604 lớp Kronshtadt có mớn nước chỉ 320 tấn, trang bị 1 pháo 85mm và 2 pháo 37mm cùng 2 tàu quét mìn kiểu T-43 có mớn nước 430 tấn, mỗi chiếc chỉ có 2 pháo 37mm nòng đôi và 2 pháo 25 mm nòng đôi. Tất cả đều nạp đạn bằng tay và ngắm bắn thủ công. Sau khi thất trận và phải tháo chạy, các tướng tá hải quan ngụy Sài Gòn bắt đầu đổ lỗi cho nhau. Lê Văn Thự đều cho rằng “cuộc hành quân” đã không hề có một kế hoạch được vạch ra từ trước nên binh hỏa lực tuy áp đảo nhưng hoàn toàn bị động. Cụm các tàu HQ-4 và HQ-5 chỉ đứng ngoài “nhìn và đợi” do sợ hỏa lực từ tàu Trung Quốc. Sau khi các tàu Trung Quốc tập trung hỏa lực đánh chìm chiếc HQ-10 là tàu chiến yêu nhất của hải quân ngụy Sài Gòn hai tàu này mới bắn vài phát đạn pháo nhưng không phát nào trúng đích. Thậm chí HQ-4 do Hà Văn Ngạc chỉ huy còn nã mấy phát đạn pháo 127mm trúng tàu HQ-16 do Lê Văn Thự và làm cho tàu này bị thương nặng, phải rút khỏi vòng chiến lết về Đà Nẵng. Sau đó HQ-4 và HQ-5 tháo chạy sang Philippines. Hạm đội Bảy của Mỹ biết rõ về trận chiến này nhưng chỉ đứng ngoài quan sát.

Trên bộ, khi lính Trung Quốc đổ bộ lên các đảo, lính ngụy Sài Gòn đã không tổ chức chống trả mà bỏ chạy vào khu bụi cây giữa đảo, sau đó thì buông súng đầu hàng. Chỉ từ 10 giờ sáng tới xế trưa, lính Trung Quốc đã bắt được 49 tù binh trên các đảo mà không cần nổ súng, hoàn tất việc đánh chiếm các đảo một cách nhanh chóng. Nhận được tin dữ từ Nguyệt Thiềm báo về, Sưu đoàn 1 không quân ngụy Sài Gòn đã lên kế hoạch sử dung 4 phi đoàn gồm 120 máy bay tiêm kích bom F-5A và F-5E cất cánh từ Đà Nẵng bay ra oanh tạc quân Trung Qốc trên các đảo. Nhưng người Mỹ đã can thiệp vào kế hoạch này, yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu hủy bỏ kế hoạch oanh tạc các hạm tàu của Trung Quốc. Đại tá Nguyễn Thành Trung khi đó đang hoạt dộng tình báo trong không quân ngụy Sài Gòn đã kể lại sự kiện này. Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng bằng cách đó cho thấy sự bạc nhược của ngụy quyền Sài Gòn do phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ và ý đồ “gài bom nổ chậm” của Mỹ ở Hoàng Sa. Nó cho thấy chưa bao giờ, chính quyền ngụy Sài Gòn có đủ ý chí và năng lực tinh thần để có thể độc lập đứng ra bảo vệ Tổ Quốc

Những ai dự định vinh danh những lính ngụy Sài Gòn là những anh hùng thì xin lỗi nhé. Những lính ngụy ấy đã hèn nhát bỏ chạy, đầu hàng ấy không thể sánh được với tấm gương hy sinh của 64 sĩ quan, chiến sĩ Hải Quân Nhân dân Việt Nam đã bằng máu của mình, quyết bảo vệ đảo/đá Gạc Ma đến cùng và giữ vững các đảo/đá Cô Lin và Len Đao, hai vị trí tối quan trọng ở trung tâm quần đảo Trường Sa.

3- Luận điệu công nhận chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn để mong đòi lại Hoàng Sa bằng pháp lý chỉ là cái bánh vẽ.

Tài liệu mang mã số 1974STATE012641_b của Phân cục CIA Đông Nam Á đặt tại Sài Gòn ngày thứ bảy 19-1-1974 được giải mật là văn bản chính thức đầu tiên cho thấy lập trường “buông” của Mỹ trước việc Trung Quốc chiếm đóng trái phép quân đảo Hoàng Sa của Việt Nam bằng vũ lực. Tài liệu viết:
“Đụng độ vũ trang trên quần đảo Hoàng Sa rõ ràng đã dẫn đến một số thương vong về phía Chính phủ Việt Nam, với báo cáo của Chính phủ Việt Nam rằng hai pháo hạm có thể bị đánh chìm bởi tên lửa Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn.
1. Tình hình phức tạp bởi sự hiện diện được báo cáo trên đảo Hoàng Sa (do Chính phủ Việt Nam chiếm đóng) của một nhân viên dân sự Mỹ trực thuộc văn phòng DAO (Tùy viên quân sự Hoa Kỳ) tại Đà Nẵng. Chúng tôi không biết tại sao đương sự lại có mặt ở đó.
2. Chúng tôi đã yêu cầu Bộ Quốc phòng chỉ đạo cho hải quân Hoa Kỳ đóng bên ngoài khu vực. Cách đây hai ngày (17-1), chúng tôi đã thảo luận tình hình với đại sứ Martin qua điện thoại và bày tỏ mối quan tâm của chúng ta trong việc làm dịu tình hình.
3. Thông cáo báo chí sẽ gồm những dòng sau đây: “Chính phủ Hoa Kỳ không đứng về phe nào trong các cuộc tranh chấp xung đột về quần đảo Hoàng Sa, song mạnh mẽ mong muốn giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Chúng tôi hiểu rằng cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Chính phủ Việt Nam đều đã từng chiếm đóng một số đảo khác nhau thuộc nhóm đảo Hoàng Sa trong một số năm. Chúng tôi không rõ vụ đụng độ này đã nổ ra trong hoàn cảnh nào. Lực lượng quân sự Mỹ không can dự vào vụ này.”
4. Chúng tôi đang đề nghị Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn khuyên Chính phủ Việt Nam tiến hành những bước tối thiểu nhằm tự vệ và cứu cấp các công dân của mình và nhân viên Hoa Kỳ chúng ta nữa, đồng thời cố gắng tối đa tránh những đụng độ trực tiếp nữa với lực lượng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa…”. (Hết trích dẫn)

Làm thế nào mà Nhà Trắng lại không biết lý do nhân viên DAO nọ lại có mặt ở Hoàng Sa ? Lại không rõ đụng độ đã xảy ra trong hoàn cảnh nào, song lại “khuyên Chính phủ Việt Nam tránh đụng độ trực tiếp thêm nữa với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” khi mà từ hôm 17-1-1974, tức là hai ngày trước khi chiến sự ở Hoàng Sa bắt đầu (19-1-1974) với câu: “Chúng tôi đã thảo luận tình hình với đại sứ Martin qua điện thoại”?

Vậy thì không phải vì Hiệp định Paris mà từ cái bắt tay Mỹ – Trung năm 1972, Mỹ đã thỏa thuận ngầm với Trung Quốc để Trung Quốc chiếm nốt nhóm đảo Nguyệt Thiềm ở Hoàng Sa. Và do đó, càng tỏ rõ rằng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn dù có lắm súng đạn, nhiều máy bay, tàu chiến nhưng vẫn không đủ “tư cách chính trị” để nói chuyện bằng vũ lực với Trung Quốc nhằm giành lại Hoàng Sa. Số phận của dân tộc Việt Nam sẽ đi đến đâu nếu cái thế lực tay sai ngoại bang được gọi là “ngụy” ấy nắm quyền lãnh đạo đất nước Việt Nam ?

Những người biện bạch cho việc không gọi chính quyền Sài Gòn là ngụy, không gọi quân đội Sài Gòn là ngụy bám vào lý do “hòa hợp dân tộc”. Tuy nhiên, hòa hợp dân tộc chỉ là cái cớ để những người vác luận điệu này ra nói chuyện nhằm che đậy một mưu đồ chính trị khác. Nếu thực tâm muốn hòa hợp dân tộc thì ngụy quyền Sài Gòn đã phải chấm dứt chiến tranh và tiến hành hòa hợp từ năm 1973 rồi chứ không phải đến bây giờ. Một cái cớ khác mà những kẻ muốn xuyên tạc lịch sử biện ra là để đòi lại chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa bằng pháp lý. Đó cũng chỉ là cái cớ để che đậy một dã tâm nguy hiểm hơn của những kẻ cơ hội chính trị.

Vấn để chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không phải bàn cãi. Hai quần đảo ấy là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam. Tuy nhiên, chuyện gì ra chuyện đó. Đã có những kẻ mượn cớ về quyền quản lý của ngụy quyền Sài Gòn đối với Hoàng Sa, mượn cớ đòi lại chủ quyền ở Hoàng Sa để phục dựng thây ma chế độ ngụy Sài Gòn, tay sai của đế quốc Mỹ. Đó mới là bản chất, là dã tâm của đám cơ hội chính trị mượn gió bẻ măng.

Hãy thử nghĩ mà xem: Khả năng đòi lại Hoàng Sa về pháp lý liệu đạt được bao nhiêu phần trăm khi Trung Quốc còn đang ngồi lù lù ở cái ghế Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ?. Hãy thử nghĩ mà xem, liệu chúng ta có đánh đỏi việc đòi lại chủ quyền ở Hoàng Sa bằng pháp lý để phủ nhận tính chất giải phóng dân tộc của Cách mạng Tháng Tám ? Liệu chúng ta có thể đánh đổi việc đòi lại chủ quyền ở Hoàng Sa bằng pháp lý mà khả năng thành công còn rất mơ hồ với tính chất chính nghĩa và tính chất giải phóng dân tộc của hai cuộc kháng chiến vừa qua với sự hy sinh của hơn 1 triệu bộ đội ta và hàng triệu nhân dân ta không ?

Hãy thử thử nghĩ xem liệu có ai tham bát bỏ mâm đén như thế không ? Sự thâm độc của bọn phản động, bọn cơ hội chính trị chính là ở chỗ đó. Rốt cuộc, đó vẫn là chiêu bài cũ của Mỹ và tay sai: Muốn đòi lại Hoàng Sa (mà chưa chắc đã đòi được) thì Việt Nam phải theo quỹ đạo của Mỹ và công nhận tính hợp pháp của chế độ ngụy quyền Sài Gòn. Điều đó, cũng có nghĩa là phủ nhận thành quả của Cách mạng tháng Tám, phủ nhận tính chính nghĩa của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta. Đó mới là tin đem của những kẻ cơ hội chính trị.

 

Tâm Minh Nguyễn

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author