Từ bỏ cách gọi ngụy quân, ngụy quyền và vấn đề đại đoàn kết dân tộc

Từ bỏ cách gọi ngụy quân, ngụy quyền và vấn đề đại đoàn kết dân tộc

Kể từ thời điểm mà phó giáo sư, tiến sĩ Trần Đức Cường, tổng chủ biên bộ lịch sử Việt Nam, trả lời trước báo chí đã gây lên nhiều tranh luận, thậm chí rất gay gắt. Sức nóng của sự kiện này vẫn rất ghê gớm và vẫn đang từng ngày, từng giờ âm ỉ và có thể bùng lên thành ngọn lửa bất cứ lúc nào, không phải chỉ trên các trang mạng xã hội, nếu thâm nhập vào đời sống xã hội thì mới thấy sức mạnh của ngọn lửa ấy thế nào, ngọn lửa của sự phẫn nộ. Nhân sự kiện này, tôi xin góp mấy lời:


Thứ nhất, truyền thống của dân tộc Việt Nam
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc đã phải chịu rất nhiều đau thương trong lịch sử tồn tại, phát triển của mình, với hàng chục cuộc xâm lược lớn nhỏ, hàng nghìn năm Bắc thuộc những tưởng sẽ không còn là chính mình nữa; 148 năm chia cắt bởi Trịnh -Nguyễn phân tranh, huynh đệ tương tàn; 117 năm bị thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, cai trị. Theo đó, không biết bao máu xương đồng bào, chiến sĩ đã đổ xuống, bao nhiêu thành quả gom góp xây dựng đã bị tàn phá. Đau thương lắm, xót xa lắm chứ!
Đến thời đại Hồ Chí Minh, bằng đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm lên những thắng lợi vang dội mang ý nghĩa thời đại, tạc vào lịch sử thế giới và làm rạng danh, vẻ vang non sông đất nước ta. Dân tộc ta đã chứng minh hùng hồn chân lý: “không có gì quý hơn độc lập, tự do”;”nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”.


Thứ hai, về tên gọi ngụy quân, ngụy quyền

Cách gọi này hoàn toàn chính xác, đây là một cụm từ dùng để chỉ một cái gọi là “chính quyền” bù nhìn, tay sai bán nước do Mỹ dựng lên, với một đội quân làm công cụ cho kẻ xâm lược. Nói đến ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn là nói đúng với bản chất vốn có của nó, chính những người đứng đầu nguỵ quân,ngụy quyền Sài Gòn như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và nhiều tướng tá của họ đã thừa nhận “Việt Nam Cộng Hòa” là tay sai của Mỹ, việc này là hiển nhiên không phải bàn cãi. Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều người do hoàn cảnh, do bị ép buộc mà theo, mà cầm súng chứ không phải họ tự nguyện hoặc họ có tư tưởng hận thù… Và chính từ thực tế đó, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách mở đường cho những người lầm đường, bị ép buộc thấy rõ bản chất tay sai bán nước của chế độ ngụy Sài Gòn trở về với cách mạng nên nhiều người trong số họ đã có những đóng góp nhất định cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Kể từ khi đất nước được giải phóng đến nay, hầu hết những người trong chế độ ngụy Sài Gòn và gia đình họ đã hội nhập rất tốt trong xã hội mới, đang cùng chung tay xây dựng đất nước giàu đẹp, đó là một thực tế không thể bác bỏ được, ngay cả những người di tản ra nước ngoài trước đây, do không có đầy đủ thông tin đã có những hoạt động cực đoan chống lại đất nước, nay khi trở về đã thừa nhận và đã thay đổi nhận thức, thái độ.
Thứ ba, về đại đoàn kết dân tộc

Để chiến thắng được những kẻ thù xâm lược, trong mỗi giai đoạn lịch sử truyền thống đại đoàn kết của dân tộc ta lại được phát huy mạnh mẽ và thể hiện bằng nhiều cách khác nhau. Đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược thì tinh thần ấy được phát huy cao độ theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết”, “thành công thành công đại thành công” nên đã huy động được mọi tầng lớp, thành phần xã hội, các Dân tộc, Tôn giáo tham gia, kể cả những người ở bên kia chiến tuyến, cả đồng bào trong nước cũng như kiều bào ta ở nước ngoài và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân ở các nước xâm lược Việt Nam.
Kể từ khi Bắc Nam sum họp một nhà đến nay, Đảng ta tiếp tục phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, đã làm cho đất nước ngày một đổi thay phát triển, Đất nước ổn định, thanh bình, đời sống Nhân dân ngày càng được ấm no, hạnh phúc. Thế và lực của đất nước ngày càng được tăng cường, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao và khẳng định trên trường quốc tế.
Hiện nay, trên 90 triệu đồng bào Việt Nam đang sống hòa thuận, đồng lòng xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu,nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời hằng mong muốn :”Xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Thực tiễn cho thấy, ở trong bất cứ một đất nước, một quốc gia nào,dù chưa phát triển hay đã phát triển ở một trình độ cao, dù quốc gia đó nhỏ bé hay rộng lớn, dân số đông hay ít đều xuất hiện, tồn tại một bộ phận nhất định vì nhiều lý do khác nhau mà dẫn đến có những tư tưởng, hành động không đồng tình,thậm chí chống lại chính quyền, chế độ, chống lại đất nước. Ở Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy nhiên, số đó là không đáng kể, một thiểu số rất ít người do hận thù, do các thế lực thù địch mua chuộc, lôi kéo, kích động, do không được thoả mãn tham vọng cá nhân, vi phạm pháp luật bị xử lý dẫn đến bất mãn… Những loại người này luôn bị nhân dân Việt Nam khinh bỉ, nguyền rủa và chắc chắn không thể nào có chỗ đứng trong lòng dân tộc.
Gần đây, một số ít người không biết xuất phát từ lý do gì và từ đâu thường sử dụng cụm từ “hòa giải, hòa hợp dân tộc”. Đảng ta, nhà nước ta luôn xác định đại đoàn kết Dân tộc là sức mạnh to lớn để đưa Dân tộc ta đi qua những khó khăn, thách thức đến bến bờ vinh quang.
Đảng ta, Nhân dân ta có lỗi gì với ai mà phải hoà giải. Phải chăng Đảng ta, Nhân dân ta có một lỗi lớn nhất đó là đánh đuổi đế quốc xâm lược, thống nhất đất nước, mang lại hòa bình, độc lập cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân và đất nước phát triển như ngày hôm nay. Nhân dân chúng ta đang sống chung trong một mái nhà, đất nước đang ổn định, mọi người yêu thương nhau và đa số đồng bào đang sinh sống ở nước ngoài đã hội nhập sâu với nước sở tại và luôn hướng về Tổ quốc thì sao họ lại nói là hoà hợp.

Thứ tư, mấy lời với các nhà viết sử

Khi trả lời báo chí, Phó giáo sư,tiến sĩ Trần Đức Cường nói:
“Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, mọi người vẫn hay gọi là nguỵ quân, nguỵ quyền . Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn.
Lịch sử phải khách quan, phải viết thế nào để mọi người chấp nhận”.
Tôi hỏi lại ông: Để mọi người chấp nhận, vậy mọi người là những ai? phải chăng đó là một thiểu số rất ít những người đang đi ngược lại với nguyện vọng của trên 90 triệu người dân Việt Nam yêu nước?
Tội ác của những kẻ cam tâm làm tay sai, bán nước thì không có sử sách nào ghi chép hết. Việc gọi ngụy quân, ngụy quyền là đúng với bản chất vốn có của nó. Danh dự, phẩm giá của những người Cộng sản, những người Việt Nam yêu nước các ông để ở đâu?
Khi phóng viên hỏi: trong quá trình thực hiện bộ sách đồ sộ này có những khó khăn gì, thưa ông? ông trả lời :
-Khó khăn đầu tiên là chúng tôi chưa có điều kiện tập hợp tất cả giới sử học.
– Khó khăn thứ hai là về tư liệu vì hầu hết hiện nằm rải rác ở khắp nơi ngay trên đất nước chúng ta. Đó là chưa kể chúng ta chưa có qui định pháp luật về việc giải mật và công bố các tư liệu lịch sử.
Ở các nước có qui định rõ ràng loại tư liệu nào trong 20 năm, hoặc 30 năm,50 năm… thì được bạch hoá. Nhưng chúng ta chưa có những qui định đó nên có những tư liệu chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận.
Hơn nữa, có các tư liệu ở Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật và nhiều nước khác nữa, vì điều kiện chúng tôi cũng chưa tiếp cận được.
Tôi hỏi lại ông: mục đích, yêu cầu của viết sử là gì ? các nguyên tắc viết sử nó thế nào?
Nói như ông Cường có nghĩa là,không cần có tư liệu, tài liệu xác thực vẫn có thể viết được sử, viết đúng hay không đúng không quan trọng, miễn là “phải viết thế nào để mọi người chấp nhận”có phải không ông?
Tôi lại hỏi ông Cường: từ bỏ cách gọi ngụy quân, ngụy quyền thì có thể bỏ cách gọi đế quốc Mỹ, thực dân Pháp, phát xít Nhật, phát xít Đức được không? Chúng ta bỏ luôn bài thơ chúc tết của Bác Hồ xuân 1969 và bài hát đã được phổ nhạc bài thơ này vì nó đụng chạm đến Mỹ và ngụy được không ? Và hơn thế nữa, từ nay chúng ta bỏ luôn không tổ chức những ngày kỷ niệm chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược vì khi tổ chức kỷ niệm sẽ phải nhắc lại những từ “dễ dẫn đến” việc mọi người không dễ chấp nhận. Cách đặt vấn đề của tôi như vậy ông thấy có được không?
Thưa ông Trần Đức Cường và các cộng sự
Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô kết liễu chủ nghĩa phát xít Đức cách đây 72 năm, nhưng cho đến nay cái thây ma đó vẫn chưa chết hẳn ,có lúc nó đã trỗi dậy đòi “xét lại”, đòi được nhân loại” vinh danh”.
Còn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của Dân tộc ta đã buộc kẻ xâm lược “tâm phục, khẩu phục”. Ấy vậy mà đã 42 năm, kể từ khi Tổ quốc, giang sơn về một mối, những kẻ bán nước, hại dân vẫn còn “sặc mùi máu”, đòi “lật đổ Cộng sản”, chúng đã thành lập hàng chục tổ chức phản động, đưa hàng chục toán khủng bố có vũ trang vào trong nước bằng các chiến dịch “Đông tiến”, “chuyển lửa về quê nhà”… Và hiện nay chúng vẫn đang tìm mọi cách thâm nhập, tác động, lôi kéo, chuyển hóa,kích động, chia rẽ nội bộ, Tôn giáo, Dân tộc,chia rẽ nhân dân; chúng chuyển tiền,phương tiện hoạt động cho số đối tượng phản động ở trong nước và tổ chức đào tạo các kỹ năng mềm cho chúng nhằm lật đổ chế độ, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân ta. Điển hình là tổ chức khủng bố Việt Tân. Ngay sau khi bộ lịch sử Việt Nam phát hành, thì các đối tượng chống phá ở cả trong nước và ngoài nước đã kịp thời tung hô, đặc biệt số đối tượng chống đối ở nước ngoài, “hậu duệ” của nguỵ quân, ngụy quyền Sài Gòn đã đẩy mạnh các hoạt động và đã có những toan tính hết sức “khủng khiếp” như kiện Việt Nam ra LHQ đòi phục hồi thây ma “Việt Nam Cộng Hoà” và đòi tài sản, yêu cầu Đảng và Nhà nước ta phải công khai xin lỗi chúng,đặt tên đường cho những kẻ có nợ máu với nhân dân…
Trong mấy chục năm qua, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách, thậm chí cả máu xương đồng bào, đồng chí,chúng ta đã vượt lên và mỗi người dân Việt Nam đều cảm thấy tự hào, cảm thấy thật vui, thật hạnh phúc vì được sống trong hòa bình, Dân tộc được ngẩng cao đầu không phải chịu kiếp nô lệ, kể cả những người đã từng một thời ở bên kia chiến tuyến. Ấy vậy mà, trả lời trước báo chí, lời của ông Trần Đức Cường có khác gì một lưỡi dao sắc lạnh cứa vào vết thương cũ của Dân tộc, thật xót xa.
Thêm nữa, một vài người không biết vì lý do thiếu thông tin, nhận thức chính trị mơ hồ, lập trường nghiêng ngả hay vì lý do gì khác mà khi phát biểu rất “tâm huyết” và cho rằng chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, từng đó thời gian đã đủ độ lùi của lịch sử để từ bỏ cách gọi nguỵ quân, ngụy quyền. Thật là khó hiểu.
Thưa ông phó giáo sư, tiến sĩ và các cộng sự
Các ông muốn “để mọi người chấp nhận” là phải viết trung thực, khách quan, chính xác. Viết sử không phải là một thông điệp chính trị để ru ngủ mọi người. Còn”chấp nhận hay không chấp nhận”, ông hãy xem những việc mà Đảng, Nhà nước ta đang làm, được hầu hết Nhân dân trong nước, phần lớn kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè gần xa thừa nhận. Còn ở đâu đó có những tiếng nói ngược, lạc lõng cũng là điều dễ hiểu. Nhân dân Việt Nam có một truyền thống vô cùng quý báu. Đó là, lịch sử không quên, nhưng bao dung, độ lượng, sẵn sàng gác lại quá khứ để hướng tới tương lai. Đó vừa là đức tính, vừa là sức mạnh của con người Việt Nam, của Dân tộc Việt Nam.
Thưa ông phó giáo sư, tiến sĩ Trần Đức Cường
Theo thiển nghĩ của tôi, mục đích viết sử là để lại cho muôn đời con cháu mai sau về nguồn gốc tổ tiên, về quá trình dựng nước và đấu tranh giữ nước của dân tộc. Từ đó hun đúc tình yêu Tổ quốc để họ có trách nhiệm hơn trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước, có phải không ông?
Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã cho thấy, lịch sử mãi mãi là lịch sử, hôm nay viết không đúng ngày mai phải trả lại giá trị thật của nó, ai đó vì bất cứ động cơ gì mà bóp méo, xuyên tạc lịch sử thì sẽ bị lịch sử phán xét.
Thưa ông phó giáo sư, tiến sĩ và các cộng sự
Các ông muốn “để mọi người chấp nhận” là phải viết trung thực, khách quan, chính xác. Viết sử không phải là một thông điệp chính trị để ru ngủ mọi người. Còn”chấp nhận hay không chấp nhận”, ông hãy xem những việc mà Đảng, Nhà nước ta đang làm, được hầu hết Nhân dân trong nước, phần lớn kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè gần xa thừa nhận. Còn ở đâu đó có những tiếng nói ngược, lạc lõng cũng là điều dễ hiểu. Nhân dân Việt Nam có một truyền thống vô cùng quý báu. Đó là, lịch sử không quên, nhưng bao dung, độ lượng, sẵn sàng gác lại quá khứ để hướng tới tương lai. Đó vừa là đức tính, vừa là sức mạnh của con người Việt Nam, của Dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Ngọc Bảo Trâm

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author