Mười hai ngày đêm đọ sức và đấu trí trên bầu trời Hà Nội

Mười hai ngày đêm đọ sức và đấu trí trên bầu trời Hà Nội

KỲ II: NGÀY 19-12-1972, RÚT KINH NGHIỆM ĐỂ ĐÁNH TRẬN TIÊU DIỆT LỚN.

Trong đêm chiến đấu đầu tiên, tổn thất của Hà Nội đã khá lớn, hơn 300 người chết, chủ yếu là dân thường, 158 người khác bị thương. Thương vong lớn nhất diễn ra ở Uy Nỗ và Cổ Loa. Hơn 200 dân thường ở đây chết và bị thương. Ngoài các mục tiêu chính mà địch nhằm đánh là sân bay Nội Bài, các trận địa tên lửa, cao xạ, các kho hàng chiến lược quan trọng tại các khu vực Đông Anh, Yên Viên, Cổ Loa, Giáp Bát… Lúc 4 giờ 51 phút sáng 19-12-1982, 3 tốp B-52 mang các số hiệu 527, 528, 529 gồm 9 chiếc đã rải hơn 200 quả bom các loại xuống khu vực trạm phát sóng quốc gia của Đài tiếng nói Việt Nam ở Mễ Trì, phá hủy trạm phát sóng này và làm cho đài Tiếng nói Việt Nam dừng phát sóng trong 9 phút. Hơn chục cán bộ và nhân viên kỹ thuật của trạm đang chuẩn bị buổi phát thanh đầu tiên trong ngày trên băng sóng mét AM hy sinh.

Trận địa súng máy phòng không 14,5 mm của dân quân xã Mễ Trì bảo vệ trạm phát sóng bị trúng bom, xã đội trưởng Nguyễn Xuân Lương và 5 đồng chí dân quân hy sinh. Hai khẩu 14,5 mm bị phá hủy. Bộ Tư lệnh Thủ đô đã chỉ đạo Huyện đội Từ Liêm bố trí ngay lực lượng trực chiến mới thay thế và điều đến 3 khẩu súng máy phòng không 12,7 mm.

Hồi 4 giờ 59 phút, qua trạm phát sóng dự bị đặt cạnh sân bay Bạch Mai, Đài tiếng nói Việt Nam lại tiếp tục phát sóng. Bản tin đầu tiên trong ngày là bản tin chiến thắng của quân dân Hà Nội và Hải Phòng, bắn rơi 3 máy bay B-52 và 5 máy bay chiến thuật của không quân Mỹ. Bài xã luận được phát kèm theo đã mạnh mẽ tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ trước dư luận toàn thế giới, đồng thời thông tin rõ tên tuổi, số lính, quê quán của 6 viên phi công B-52 bị ta bắn rơi, phải nhảy dù và được làm “khách không mời” của “Khách sạn Hilton – Hà Nội” (tức nhà tù Hỏa Lò). Chiến thuật truyền thông “bịt miệng đối phương” lại mà đánh của Nixon và phe lũ đã thất bại

Rất nhiều quốc gia đã phải trả giá đắt vì những đòn công bất ngờ từ kẻ thù, bị mất quyền chủ động chiến lược và thiệt hại hết sức nặng nề. Đòn phủ đầu của Hải quân phát xít Nhật vào một phần Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đóng tại Hawai ngày 7-12-1941 đã gây thiệt hại khá nặng nề cho Hải quân Mỹ và châm ngòi cho Chiến tranh Thái Bình Dương (một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai).

Trong cuộc chiến tranh 6 ngày ở Trung Đông từ ngày 6 đến hết ngày 11-6-1967, Liên quân Syria – Ai Cập (khi đó được gọi là Cộng hòa Arab Thống nhất) đã hoàn tàn bị bất ngờ trước không quân Israel tuy yếu hơn nhưng được tổ chức tốt hơn và chiếm thế chủ động chiến lược. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 tuần Liên quân Ai Cập – Strria đã chịu thương vong hàng chục vạn binh lính và sĩ quan, hàng vạn người khác bị bắt làm tù binh. Hàng vạn tấn vũ khí, khí tài bị quân Israel chiếm được, trong đó có hơn 20 dàn tên lửa SAM-2 cùng loại với tên lửa phòng không SAM-2 mà Việt Nam đang sử dụng. Quân Israel chiến được toàn bộ bán đảo Sinai của Ai Cập cho đến bờ Đông kênh đào Suez và phần phá Nam Cao nguyên Golan chiến lược của Sirya.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Quân đội Xô Viết cũng bị bất ngờ trước cuộc tấn công kiểu Blitzkrieg (Chiến tranh chớp nhoáng) của phát xít Đức ngfay 22-6-1041 và hứng chịu nhiều thiệt hại nặng nề. Phương diện quân miền Tây hẩu nư bị đánh tan, các phương diện quân Tây Bắc và Tây Nam bị thiệt hại rất nặng nề. Chỉ trong vòng 45 ngày, hơn 500.000 sĩ quan, chiến sĩ Hồng quân hy sinh, bị thương, hàng trăm nghìn người khác bị bắt làm tù binh. Quân đội Liên Xô phải rút lui khỏi Byelorussia và 3 nước Cộng hòa Xô viết vùng Pribaltic chỉ trong vòng 7 ngày.

Còn ở miền Bắc Việt Nam năm 1972, Quân và Dân Việt Nam đã không bị bất ngờ. Bởi từ năm 1967, Bác Hồ đã tiên đoán: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng đem B-52 ra đánh phá Hà Nội như đã đem máy bay ném bom chiến lược B-29 tàn phá Bình Nhưỡng trước khi chịu ký Hiệp định đình chiến ở Bàn Môn Điếm… Đế quốc Mỹ nhất định thất bại, nhưng chúng chỉ chịu thất bại sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Mọi công việc chuẩn bị để đón đánh B-52 của không quân chiến lược Mỹ đã được Bộ Tổng tư lệnh quân đội ta cùng toàn quân, toàn dân bắt tay vào chuẩn bị kỹ càng từ 5 năm trước đó.

Vì vậy, việc đánh rơi 3 chiếc B-52 (trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ) trong đêm đầu tiên 18-12-1972) có một ý nghĩa quân sự, chính trị, ngoại giao cực ký quan trọng. Bắn rơi tại chỗ B-52 là niềm mong mỏi của toàn Đảng, toàn Quân và toàn Dân mong mỏi từ suốt hơn 5 năm qua thì này đã thành hiện thực. Chiến thắng đầu tiên này báo hiệu sự phá sản không thể tránh khỏi của cái gọi là “Kế hoạch Linebacker II” hòng đẩy miền Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá và dùng nó làm sức ép buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ký kết Hiệp định Paris theo những điều kiện của chính quyền Mỹ và ngụy Sài Gòn đòi hỏi một cách vô lý và trịch thượng.

8 giờ sang 19-12-1972, Bộ Chính trị và Ban Bí thư họp khẩn nghe Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam báo cáo tình hình chiến đấu hòi đêm hôm trước. Đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã kịp thời biểu dương các lực lượng phòng không Hà Nội và Hải Phòng đã chiến đấu tốt; lần đầu tiên trên thế giới bắn rơi tại chỗ máy bay chiến lược B-52 mà Mỹ coi là “siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm”. Bộ Chính trị cũng nhắc nhở bộ đội phải tiếp tục đề cao cảnh giác, tránh chủ quan thỏa mãn; phải chuẩn bị tốt hơn nữa để có thể đánh trơi nhiều B-52 hơn nữa, bẻ gãy ý đồ muốn đàm phán trên thế mạnh của đế quốc Mỹ.

Tại hội nghị này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt câu hỏi với Bộ Tổng tham mưu: “Nếu B-52 bị bắn rơi với tỷ lệ nào thì địch còn tiếp tục đánh phá, với tỷ lệ nào thì Nhà trắng phải rung chuyển và với tỷ lệ nào thì địch buộc phải ngừng cuộc tập kích ?”

Thay mặt Bộ Tổng tham mưu, Phó tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài báo cáo: “Ở mức I, với tỷ lệ B-52 bị bắn rơi từ 6% đến 8% thì địch còn tiếp tục có thể đánh phá. Ở mức II, với tỷ lệ B-52 bị bắn rơi từ 9% đến 12% thì Nhà Trắng phải rung chuyển. Ở mức III, với tỷ lệ B-52 bị bắn rơi từ 13% trở lên thì địch buộc phải ngừng cuộc tập kích”.

Đại tướng hỏi tiếp: “Vậy Bộ Tổng tham mưu chọn mức nào ?”

Thiếu tướng Phùng Thế tài trả lời ngay: “Báo cáo Đại tướng, chúng tôi bỏ qua mức I, phấn đấu vượt mức II và đạt mức III”.

15 giờ chiều 19-12-1972, tại Câu lạc bộ Quốc tế cạnh Nhà hát lớn Hà Nội diễn ra cuộc họp báo đặc biệt do Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức. Tại cuộc họp báo này, người phát ngôn Bộ Quốc phòng chính thức công bố thông báo chiến thắng đêm 18 rạng ngày 19-12-1972 của Quân đội Nhân dân Việt Nam đối với Không quân chiến lược Mỹ. Các nhà báo trong và ngoài nước được tận mắt chứng kiến 6 viên phi công B-52 bị tên lửa phòng không Việt Nam bắn rơi và còn sống sót. Thiếu tá hoa tiêu ném bom Alexander Fernando thừa nhận không quân Mỹ đã trút bom vào hầu hết các mục tiêu dân sự.

Phóng viên của hãng thông tấn Reuter (Anh) có mặt tại Hà Nội khi đó đã nêu câu hỏi rằng việc đưa các tù binh ra họp báo có vi phạm Công ước Viên và tù binh hay không. Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Việt Nam đã trả lời thẳng thừng rằng Công ước Viên không cấm việc tiết lộ danh tính của các tù binh. Hơn nữa, đây là một hành động nhân đạo để cho người thân của các tù binh Mỹ này biết được con em họ còn sống và còn có hy vọng trở về. Các tù binh bị thương được phía Việt Nam đối xử theo đúng tinh thần Công ước Viên. Họ được chăm sóc tốt về ý tế, bảo đảm ăn uống, sinh hoạt ở nơi an toàn mặc dù trước đó, họ vừa trút bom xuống đầu những người đã cố gắng cứu sống họ khi họ bị bắn rơi.

Đêm 19 rạng ngày 20-12-1972, Không quân Mỹ vẫn dùng B-52 tổ chức đánh tập trung vào Hà Nội tại các mục tiêu là sân bay Nội Bài, ga Đông Anh, các khu kho Uy Nỗ, Cổ Loa, Yên Viên, Nhà máy xe lửa Gia Lâm, khu tập thể An Dương cạnh cầu Long Biên. Số lượng các phi vụ B-52 lên đến hơn 93 lần chiếc, chia làm 3 đợt như đêm 18-12 vào chập tói, nửa đêm và rạng sáng.Bộ tư lệnh không quân đặc nhiệm 77 của Mỹ dùng hơn 162 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá Khu gang thép Thái Nguyên, Nhà máy điện Yên Phụ, thị xã Bắc Giang, các trận địa sản xuất đạn tên lửa ở Trại Cá, Sấu Giá, Vân Trì…

Bộ đội tên lửa bảo vệ Hà Nội đánh 22 trận, tiêu thụ 33 đạn, chỉ bắn rơi 2 chiếc B-52 nhưng không rơi tại chỗ. Một chiếc rơi ngoài Thái Bình Dương, một chiếc lết về được căn cứ Utapao với 4/8 động cơ bị hỏng và trượt khỏi đường băng khi hạ cánh, lao vào bãi mìn và bị phá hủy hoàn toàn.Tuy nhiên, đêm 19 rạng ngày 20-12-1972 cũng là đêm có khá nhiều máy bay B-52 bị tên lửa phòng không Việt Nam làm hư hại ở các mức độ khác nhau. Theo phía Mỹ thừa nhận, chiếc B-52D (số hiệu 56-0592, mật danh “Ivory 01”) xuất phát từ Utapao bị thương nặng, rơi trên đường băng sân bay; chiếc B-52G (số hiệu 58-0254, mật danh “Hazel 03”) xuất phát từ Guam bị rơi trên biển khi cố hạ cánh xuống căn cứ Anderson. Theo tài liệu của hang Boeing, hang sản xuất đồng thời là nhà thầu bảo trì máy bay B-52 cho quân đội Mỹ, trong các trận đánh đêm 19-12-1972, chiếc B-52D số hiệu 56-0592 đã bị thương rất nặng và phải hạ cách bắt buộc xuống sân bay Nakhon Phanom (Thái Lan), thời gian sửa chữa lên đến 2.000 giờ công; chiếc B-52G số hiệu 58-0254 hạ cánh tại căn cứ Anderson ở Guam với 30 lỗ thủng trên thân, mất 250 giờ công sửa chữa.

Tại Hải Phòng sau đêm đầu tiên chỉ bắn rơi được 1 chiếc cuwowfngnkisch A-6A bay thấp, đánh lén, đêm 19-12-1972, Đại tá Bùi Đăng Tự, tue lệnh Sư đoàn phòng không Hải Phòng (F363) và Thượng tá Chính ủy Vũ Trọng Cảnh thống nhất hạ lệnh cho tất cả cao xạn và tên lửa đánh máy bay cường kích, không chờ B-52 nữa. Trong ngày và đêm 19-12-1972, Không quân của hải quân Mỹ tiếp tục đánh phá Sở Dầu, Bến Kiền, Bến Bính, Cầu Quay, khu đầu mói giao thông Quán Toan và các trận địa tên lửa.

Nhờ rút kinh nghiệm đêm trước đánh theo kiểu xoay bản lề, bắn theo tiếng động, đêm nay, Sư đoàn phòng không Hải Phòng đánh tập trung hỏa lực và đạt hiệu quả chiến đấu cao. Tên lửa của các trung đoàn 238 (Hạ Long) và 285 (Nam Triệu) bắn rơi 1 chiếc A7C và 1 chiếc F-4J. Trung đoàn cao xạ 250 hạ 1 chiếc F-111A và 1 chiếc F-4H.

Trận đánh rơi tại chỗ chiếc A-7C lúc rạng sang ngày 20-12-1972 của Tiểu đàn hỏa lực 72 (Đoàn Hạ Long) có nhiều điểm đáng khâm phục về tinh thần dũng cảm, ý chí tiến công địch, dám đối đầu và kỹ năng tác chiến thực hiện mục tiêu “tiêu diệt địch, bảo vệ mình của Bộ đội Tên lửa phòng không Việt Nam.

Hồi 4 giờ 50 phút sáng 20-12-1972, không quân của hải quân Mỹ điều một tốp 2 chiếc A-6E đột nhập vào khu vức ven biển Đồ Sơn và lượn vòng tại đó để thu hút sự chú ý của ta. Sau 5 phút, một tốp A-7C bay vào và lượn lờ ở khu vực cửa sông Văn Úc nhưng không xâm nhập bầu trời nội đô thành phố. Các tiểu đoàn hỏa lực của E238 đều bắt được mục tiêu nhưng chưa tiểu đoàn nào phóng đạn. Vòng lượn của tốp A-8C cứ xoay tròn xung quanh trận địa của D82. Trung đoàn trưởng E238 Đào Công Thận điện nhắc Tiểu đoàn trưởng D82 Ngô Thế Dân chú ý địch có thể bẫy ta phóng đạn rồi phóng tên lửa Shrike “phản pháo” ta.

Lúc 4 giờ 57 phút, chớp đúng thời cơ tốp A-7C nâng độ cao và phun nhiễu tiêu cực, kíp chiến đấu của D82 gồm sĩ quan điều khiển Nguyễn Phúc Chuyện và các trắc thủ Hiển, Liên, Giang đã thực hiện thao tác phát sóng một lần, đánh nhanh có chuẩn bị, dùng phương pháp vượt trước nửa góc phóng một đạn. Cùng lúc đó, địch cũng phát hiện ta phát sóng điều khiển và phóng trả tên lửa Shrike. Kíp chiến đấu kịp thời chuyển chế độ bám sát tự động, đột ngột quay ngoặt đài SRN-75 một góc 90 độ và tắt sóng cao tần điều khiển.

Vào lúc quả tên lửa Shrike phóng ra từ tốp A-7C nổ cách trung tâm trận địa của D82 chưa đầy 100 m thì cũng là lúc chiếc A-7C trúng đạn tên lửa B-750B của D82, bốc cháy dữ dội và rơi xuống cánh đồng xã Thuận Thiên, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Đại úy phi công Mỹ Jim R. Carne nhảy dù và bị dân quân Tiên Lãng bắt sống. Anh ta khai rằng nhiệm vụ của cả 2 biên đội A6 và A7 là cố làm cho radar của ta bị phân tán chú ý về hai hướng ngược chiều nhau nhằm tìm diệt trận địa tên lửa SAM.

Nhờ máy phát hiện sóng radar, J. R. Carne biết ta đã phát song sục sạo mục tiêu nhưng anh ta cố chờ đến hi ta phóng đạn và phát song điều khiển để đánh trả bằng tên lửa AGM-78 cho chắc ăn. Nhưng J. R. Carne vừa phóng đạn đi thì tên lửa của ta đã nổ ngay trên cánh phải máy bay của anh ta. Trận đánh của D82 là bài học quý giá cho các tiểu đoàn tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng để đối phó với thủ đoạn cơ động vòng tròn, liên tục đổi hướng, phun nhiễu đồng thời phóng trả tên lửa chống bức xạ của địch.

Sau các trận đánh đêm 19 rạng ngày 20-12-1972 với tổn thất tối thiểu, các tướng tá không quân Mỹ chỉ huy các căn cứ Anderson trên đảo Guam (tướng Andrew B. Anderson), Utapao ở Thái Lan (tướng Glenn R. Sullivan), Lực lượng không quân đặc nhiệm 77 của Hải quân Mỹ trên 6 tài sân bay đậu ở Biển Đông cũng như Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ (các tướng John C. Meyer và John Dale Ryan) lại chủ quan cho rằng: “Bắc Việt đã căng hết sức ra rồi”. Họ ra lệnh tập trung binh lực chuẩn bị chi trận quyết chiến chiến lược đêm 20 rạng ngày 21-12-1972 với hy vọng sẽ giành ưu thế áp đảo cho phía Mỹ, buộc Việt Nam phải ngồi lại bàn đám phán ở Paris trong tư thế của “kẻ ăn xin”.

m1 m2 m3 m4 m5 m6 m7 m8 m9 m10 m11 m12m13

Ảnh 1: Xác chiếc B52D số hiệu 56-0608, mật danh liên lạc “Rose 1” bị Tiểu đoàn tên lửa 77, Đoàn Cờ Đỏ (E257) bắn rơi tại xã Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Tây.

Ảnh 2: Trẻ em Hà Nội ở nơi sơ tán.

Ảnh 3: Thảm bom B-52 ở Uy Nỗ, Đông Anh, Hà Nội.

Ảnh 4: Đại úy Robert Glenn Certain, hoa triêu dẫn đường trên chiếc B-52G số hiệu 58-0201, mật danh liên lạc “Charcoal 1” là phi công B-52 đầu tiên được nhập trại Hỏa Lò đêm 18-12-1972.

Ảnh 5: Đại úy tác chiến điện tử Richard Thomas Simpson trên chiếc B-52G số hiệu 58-0201 bị bắt sống đêm 17 rạng ngày 19-12-1972.

Ảnh 6: Thiếu tá hoa tiêu ném bom Richard Edgar Johnson trên chiwwsc B-52G số hiệu 58-0201, bị bắn rơi, phải nhảy dù và bị bắt làm tù binh đêm 18 rạng ngày 19-12-1972.

Ảnh 7: Đại úy Karl Hal Wilson, phi công lái chính chiếc B-52D số hiệu 56-0608, mật danh liên lạc “Rose 1” bị bắn rơi tai xã Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Tây và bị dân quân Việt Nam bắt sống.

Ảnh 8: Trung úy phi công phụ Charles Arthur Brown trên chiếc B-52D số hiệu 56-0608 bị bắt làm tù binh.

Ảnh 9: Thiếu tá hoa tiêu ném bom Alexander Fernando trên chiếc B-52D số hiệu 56-0608 bị bộ đội phòng không Việt Nam bắn rơi và bị bắt làm tù binh.

Ảnh 10: Phi công Mỹ Jim R. Carne bị bắt sống ở Hải Phòng.

Ảnh 11: Chiếc A-7C của phi công Mỹ Jim R. Carne bị bắn rơi tại Hải Phòng lúc rạng sáng 19-12-1972.

Ảnh 12: Dẫn giải phi công Mỹ lái B52 đến họp báo

Ảnh 13: Các phi công Mỹ thú nhận tội ác tại cuộc họp báo chiều 19-12-1972 tại Câu lạc bộ quốc tế, Hà Nội.

Ảnh 14: “Cờ xin ăn” của phi công Mỹ bị bắn rơi tại miền Bắc Việt Nam.

 

Tâm Minh Nguyễn

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author