Mong manh quyền xuất nhập cảnh?

Mong manh quyền xuất nhập cảnh?

Luật Khoa tạp chí được xem là nơi dành cho những cây viết chuyên về luật do Trịnh Hữu Long, Đoan Trang đều là nhân viên của Trịnh Hội – VOICE điều hành. Ngày 1/11/2017, trang này đăng tải bài viết “Mong manh quyền xuất nhập cảnh” của Luật sư Đặng Đình Mạnh có một số thứ cần làm bàn.

Trong bài viết, Luật sư Mạnh đã liệt kê ba trường hợp của bà Dương Thị Hằng Nga, ông Lê Thanh Liêm và ông Phan Châu Thành với cáo buộc tới chính quyền đó là họ bị tước quyền xuất nhập cảnh trái phép. Ông Mạnh cho rằng quyền xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam đang quá mong manh.

Có thể nói, hàng ngày có tới hàng trăm ngàn người Việt đang nhập cảnh và quá cảnh tại các cửa khẩu mà không gặp rắc rối gì. Chỉ mới một vài trường hợp bị tước quyền xuất nhập cảnh ông Mạnh đã cho rằng quyền công dân này trở nên mong manh thì thật đáng “lo ngại” cho năng lực đánh giá tình hình của Luật sư Mạnh. Cần phải lạm bàn xem khả năng hiểu hệ thống luật pháp của ông có vấn đề gì không.

Luật sư Mạnh cho rằng khi quyền xuất nhập cảnh của công dân đã được Hiến pháp thừa nhận và đảm bảo, thì Nghị định 136/200/NDD-CP của Chính phủ và Thông tư 21/2011/TT-BCA của Bộ Công an là sai trái vì dám ngang nhiên có thẩm quyền tương đương với Hiến pháp. Thiết nghĩ Luật sư Mạnh phải hiểu một điều rất đơn giản rằng Hiến pháp quy định ở mức chung nhất, và các bộ luật, đạo luật, thông tư của Chính phủ, Bộ và các ban ngành dựa vào đó để kiến nghị các dự luật. Không phải chỉ ở Việt Nam, các cơ quan hành pháp lại đưa ra các các bộ luật can thiệp cụ thể vào các quy định của Hiến pháp. Ở hầu hết các quốc gia, cả phát triển và không phát triển, bộ máy hành pháp luôn đóng vai trò kiến nghị dự luật để Quốc hội xem xét và thông qua.

Và khi xem xét kỹ điều 23 của Hiến pháp, đối chiếu với Nghị định 136/2007/NĐ-CP và Thông tư 21/2011/TT-BCA, chúng ta không hề nhận ra nghịch lý nào như Luật sư Đặng Đình Mạnh đã trình bày.

Điều 23 của Hiến pháp ghi rõ:

Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Tức là công dân có quyền tự do đi lại, xuất nhập cảnh, nhưng phải chú ý rằng việc thực hiện các quyền này phải tuân thủ pháp luật. Tức là công dân phải tuân thủ các Nghị định của Chính phủ, cũng như các Thông tư của Bộ Công an, bởi đây chính là cơ quan thực hiện trực tiếp quyền công dân được quy định tại Hiến pháp.

Điều 21 của Nghị định 136/2007/NĐ-CP đã ghi rõ:

Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

  1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.
  2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.
  3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.
  4. Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.
  5. Vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.
  6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
  7. Có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ.

Và điều 23 của Nghị định 136/2007/NĐ-CP quy định rõ ràng:

Người Việt Nam đang ở nước ngoài chưa được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau:

  1. Không có giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam.
  2. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an.

Và dựa vào Nghị định 136/2007/NĐ-CP, Bộ Công an đã đưa ra Thông tư 21/2011/TT-BCA quy định rất rõ ràng để mọi công dân Việt Nam có thể dễ dàng tuân thủ pháp luật.

Luật sư Đặng Đình Mạnh cho rằng Bộ Công an đã cố tình không thông báo cho các thân chủ của ông ta nhằm tránh tối đa các thiệt hại tinh thần cũng như vật chất. Liệu Luật sư Đặng Đình Mạnh có thể đưa ra được chứng cớ xác thực rằng Bộ Công an đã không tìm cách liên hệ và thông báo cho thân chủ của ông?

Khoản 3, điều 6, mục 1, chương 2 của Thông tư 21/2011/TT-BCA đã ghi rõ:

Cơ quan, người có thẩm quyền quyết định chưa được xuất cảnh, tạm hoãn xuất cảnh (kể cả khi gia hạn và giải tỏa các quyết định này) có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người có nghĩa vụ chấp hành các quyết định đó biết, trừ trường hợp vì lý do cần giữ bí mật cho công tác điều tra tội phạm hoặc lý do an ninh.

Như vậy, không rõ thân chủ của Luật sư Đặng Đình Mạnh đang vướng phải chuyên án điều tra như thế nào. Nếu cơ quan, người có thẩm quyền quyết định cho thân chủ của Luật sư Mạnh không được xuất nhập cảnh mà không có giải thích hợp lý cho việc không gửi thông báo bằng văn bản cho thân chủ của Luật sư thì Luật sư Mạnh hoàn toàn có thể giúp thân chủ mình khởi kiện chính cơ quan, người có thẩm quyền quyết định thân chủ của Luật sư Mạnh không được xuất nhập cảnh. Luật sư Mạnh có thể hoàn toàn tuân thủ pháp luật để đòi lại công bằng, chính nghĩa cho các thân chủ của mình. Đó phải chăng chính là lý do mà Luật sư Mạnh lựa chọn để theo đuổi nghề luật sư hay sao?

Với một bài viết thể hiện trình độ học luật yếu kém của Luật sư Đặng Đình Mạnh và quá trình biên tập qua loa, thiếu trách nhiệm của Luật Khoa, độc giả không khỏi thắc mắc liệu Luật Khoa tạp chí có thật sự hoạt động vì tinh thần thượng tôn pháp luật, đóng góp để xây dựng một nền tảng pháp luật công bằng, văn minh để giúp đỡ những người bị hàm oan? Hay Luật Khoa tạp chí chỉ cần thấy bài viết nào chỉ trích chính quyền, chỉ trích nhà nước Việt Nam là sẽ đăng tải mà không cần xem xét kỹ tới chất lượng nội dung của bài viết? Qua bài viết này, độc giả không khỏi phải đặt lại nghi vấn về động cơ thực sự của Luật Khoa tạp chí.

GĐTQT

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author