“Mật” và “Không mật” (bản đầy đủ)

“Mật” và “Không mật” (bản đầy đủ)

Những ngày vừa qua, trước khi Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 5 diễn ra, việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương thông báo kết luận kiểm tra dấu hiệu vi phạm và xem xét thi hành kỷ luật với Ban thường vụ Đảng ủy Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN, giai đoạn 2009 -2015) cùng một số cá nhân liên quan, trong đó có việc đề nghị kỷ luật ông Đinh La Thăng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN, đã làm xôn xao dư luận. Nhiều ý kiến ủng hộ cách làm này của Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhưng cũng có không ít ý kiến cho rằng việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương thông báo kết luận kiểm tra như trên là “cầm đèn chạy trước ô tô”, là không đúng với các quy định hiện hành về việc công bố các kết luận thanh tra, kiểm tra khi chưa được cấp có thẩm quyền xem xét và quyết định việc này. Điều đó có liên quan đến các quy định trong lĩnh vực bảo mật thông tin đã được quy định trong Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước hiện hành.
Liên quan đến việc này ta thử bàn về việc “Mật” và “Không mật” hiện nay ra sao.
Trở lại một chuyện cũ cách đây 7 năm, đó là ngày 28/11/2010 hàng trăm ngàn tài liệu mật của Bộ Ngoại giao Mỹ được tiết lộ trên wikileaks và còn được gửi đến 5 tờ báo nổi tiếng nhất của Mỹ, Đức, Pháp, Anh và Tây Ban Nha đã làm cho giới chính trị Mỹ và nhiều nước sôi sùng sục và làm cho dư luận báo chí khắp nơi nóng hẳn lên. Sự kiện tiết lộ tài liệu mật này được dư luận coi như là một vụ ” tấn công 11/9 ” vào nền ngoại giao Mỹ, dự kiến nó sẽ làm ảnh hưởng lâu dài đến quan hệ ngoại giao của Mỹ và các nước khác. Bà Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khi ấy gọi vụ công bố các bức điện mật trao đổi giữa các tòa đại sứ Mỹ với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là sự “tấn công vào cộng đồng thế giới”. Trong khi đó, các thượng nghị sỹ Mỹ đã thông qua một dự luật nhằm trừng phạt Julian Assange và trang mạng WikiLeaks, theo đó quy định việc công bố danh tính nguồn tin của lực lượng quân đội và tình báo Mỹ là phạm luật. Chính phủ Anh và nhiều nhà lãnh đạo các nước cũng đã lên án tiết lộ mới nhất của Wikileaks với hàng trăm ngàn trang tài liệu mật, tỏ ý lo ngại với cái đà này thì hầu hết các tài liệu mật của các quốc gia đều có thể bị tiết lộ ra ngoài. Các tổ chức bắt tay với Lầu Năm Góc lên án trang website này đã khiến cuộc sống của nhiều người gặp nguy hiểm bằng cách công bố các tài liệu chiến tranh, trong đó phơi bày tên của những người Afghanistan đang làm việc cho người Mỹ hoặc làm “tay chân” cho quân Mỹ. Còn ông Julian Assange, chủ trang Wikileaks, sau khi bị lực lượng cảnh sát quốc tế Interpol truy nã không phải là vì đã công bố tài liệu mật mà là do bị cáo buộc hãm hiếp và quấy rối tình dục hai người phụ nữ Thuỵ Điển và bị một số nước châu Âu truy tìm, ngày 7/12/2010 đã ra nộp mình cho cảnh sát Anh. Lúc đầu ông bị bị Toà án Anh bác bỏ yêu cầu cho được tại ngoại, nhưng sau đó, ngày 17/12 ông lại được Tòa án Anh cho tại ngoại sau khi đã nộp 378.000 USD tiền thế chân và bị buộc không được rời khỏi nước Anh. Trong khi đó Thụy Điển vẫn muốn dẫn độ ông về Thụy Điển theo trát lệnh của Tòa án nước này. Vụ việc này sau đó còn có nhiều diễn biến phức tạp, liên quan đến nhiều nước, bởi vì ông Julian Assange, người sáng lập ra trang mạng Wikileaks, đã tuyên bố khi ông đã được tại ngoại hầu tra, tổ chức của ông sẽ hoạt động mạnh mẽ hơn.
Tôi mở WikipediA (Bách khoa toàn thư mở) của Jimmy Wales để tìm đọc lời giới thiệu về Julian Assange và về Wikileaks thì được biết Wikileaks là một Website đặt tại Thuỵ Điển, chuyên đăng tải các nội dung thông tin từ các nguồn vô danh gửi đến và các thông tin rò rỉ từ các loại tài liệu chưa công bố nhưng vẫn mang tính nặc danh của nguồn tin. Website này thành lập năm 2006, do Julian Assange, một nhà báo người Úc, một nhà hoạt động Internet (mà có người gọi là một “người hùng” hacker), điều hành. Chỉ trong vòng một năm sau khi khai trương, website tuyên bố cơ sở dữ liệu của họ đã có hơn 1,2 triệu tài liệu.
Vào tháng 4 năm 2010, một đoạn video được đăng tải trên Wikileaks có tên Vụ giết người ngoài dự kiến đã đưa Website này trở thành cổng thông tin chính cho các báo cáo, tài liệu và video nặc danh và chính xác từ các chiến trường có quân đội Mỹ tham chiến. Vào tháng 7 cùng năm, Wikileaks đã công bố Nhật ký chiến tranh Afghanistan, với hơn 90.000 tài liệu về cuộc chiến tranh của Mỹ tại đất nước này trước đây chưa từng được biết đến.
Ngày 22/10/2010 Wikileaks lại công bố một loạt gần 400.000 tài liệu về cuộc chiến Iraq do Mỹ khởi xướng, được thế giới mô tả là “quả bom sự thật” mà dư luận trước đó chưa từng biết.
Vụ việc Wikileaks công bố một loạt tài liệu bí mật của Chính phủ và Quân đội Mỹ nêu ra trên đây đặt ra một câu hỏi: Làm thế nào để bảo vệ được các tài liệu bí mật quốc gia, không chỉ ở Mỹ mà là ở tất cả các nước và liệu có giới hạn nào đối với việc tự do trong hoạt động báo chí hay không?
Ai cũng biết bất cứ quốc gia nào trên thế giới đều có đạo luật hoặc các quy định cụ thể về bảo vệ bí mật nhà nước, nhất là đối với các tài liệu liên quan đến an ninh chính trị, ngoại giao, quốc phòng của mỗi nước. Vì thế cũng là dễ hiểu khi thấy hầu như nước nào cũng có bộ máy hoạt động tình báo, gián điệp nhằm thu thập thông tin, tài liệu mật của các nước khác, nhất là những nước thù địch, để phục vụ kế hoạch phòng thủ hoặc tấn công của nước mình. Hoạt động tình báo trước hết nhằm thu thập các thông tin mật về an ninh, quốc phòng, ngoại giao…của các nước đối phương mà báo chí là một đối tượng để các cơ quan tình báo khai thác thông tin. Ngoài ba lĩnh vực được bảo mật nói trên, nhiều nước còn quy định một số lĩnh vực bảo mật khác, như bảo mật kinh tế, phát minh, sáng chế khoa học, kỹ thuật… Không ít nước còn có quy định quyền của công dân bảo vệ bí mật riêng tư, báo chí không được tự ý đưa chuyện đời tư của một ai đó ra công khai khi chưa được chính người đó cho phép. Đi cùng với các quy định về bảo mật thông tin, các nước đều có quy định về giải mật thông tin. Thường 20, 30 hay 50, 70 năm…, tuỳ theo cấp độ bảo mật của thông tin mà có quy định giải mật. Vì thế hầu như không có thông tin nào được giữ bí mật tuyệt đối, đến mức “sống để bụng, chết mang đi” cả!
Ở Việt Nam bảo mật thông tin đã được thể chế hoá bằng nhiều văn bản quy định pháp luật. Ta chưa có Luật riêng về bảo vệ bí mật nhà nước, nhưng từ lâu đã có các văn bản pháp luật quy định về việc giữ gìn bí mật quốc gia, mà Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành là một ví dụ. Pháp lệnh này được ban hành cách đây 17 năm (Số 30/PL-UBTVQH10 ngày 18/12/2000) mang tên “Bảo vệ bí mật nhà nước”. Pháp lệnh có 5 Chương và 22 Điều, quy định: “Bí mật nhà nước là những tin tức về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam “ (Điều 1).
Cụ thể hoá Pháp lệnh nói trên, ngày 28/3/2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 33/2002/NĐ-CP Quy định chi tiết thì hành Pháp lệnh, gồm 4 Chương và 32 Điều, trong đó có những quy định cụ thể về: Người có trách nhiệm lập danh mục bí mật nhà nước; Thẩm định và quyết định danh mục bí mật nhà nước; Công bố danh mục bí mật nhà nước; Quy định độ mật đối với từng loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước; Bảo vệ bí mật mật mã quốc gia; Bảo vệ bí mật trong hoạt động xuất bản, báo chí và thông tin đại chúng khác v.v…Riêng về việc bảo vệ bí mật trong hoạt động báo chí, xuất bản và thông tin đại chúng khác, ngoài các quy định trong Pháp lệnh và Nghị định trên đây, còn có một số quy định về những điều không được thông tin trên báo, được ghi tại Điều 10, Luật báo chí ngày 28 tháng 12 năm 1989 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật báo chí ngày 12 tháng 06 năm 1999 và tại Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 04 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí. Tại Tiết 2, Điều 10 trong cả hai Luật trên đây quy định: “Không được tiết lộ bí mật Nhà nước: bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định”.
Thủ tướng Chính phủ và thủ trưởng các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị – những người có thẩm quyền theo quy định của Pháp lệnh về bảo vệ bí mật nhà nước, đã ban hành nhiều danh mục bảo vệ bí mật theo cấp độ bảo mật từ thấp lên cao, gồm: Mật, Tối mật và Tuyệt mật.
Có thể nói, bảo vệ bí mật quốc gia không chỉ là công việc của các cơ quan giữ gìn và bảo quản các tài liệu bí mật nhà nước và còn là nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi công dân của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có những nhà văn, nhà báo – những người hoạt động trong lĩnh vực được coi là tự do nhất! Trong bài viết này tôi không có ý định và cũng không có đủ thông tin để nhận xét, đánh giá kết quả đã đạt được trong việc thực hiện Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước, nhất là việc thực hiện Pháp lệnh này trong hoạt động báo chí, xuất bản mà chỉ xin nêu một vài ý kiến trong nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này.
1. Cho đến nay khái niệm “Mật” và “Không mật” vẫn chưa có được một cách hiểu thống nhất. Thế nào là bí mật nhà nước, bí mật là bí mật với ai và phạm vi các lĩnh vực phải giữ bí mật được giới hạn đến đâu để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thông tin báo chí trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay?
Thường ai cũng hiểu, đối tượng cần phải giữ bí mật là địch chứ không phải là ta. Song hiện nay việc giữ bí mật hoặc các tài liệu được coi là mật không phải chỉ là quy định giữ bí mật với địch như cách hiểu thông thường. Trên thực tế một số tài liệu hoặc thông tin khai thác từ báo chí nước ngoài được coi là mật, không phổ biến, như đối với các tài liệu tham khảo của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và một số cơ quan nghiên cứu khác. Như vậy đối tượng phải giữ bí mật các tài liệu này không phải là địch mà là…ta, bởi vì tài liệu khai thác từ phía “địch”! Người viết bài này từng nghe Phó Thủ tướng Vũ Khoan trước đây trong một lần đến thăm TTXVN nói rằng ông rất băn khoăn không biết phải xử lý đối với các bản tin tham khảo do TTXVN phát hành theo chế độ tài liệu mật nào. Nếu thực hiện đúng quy định về chế độ bảo mật thông tin theo Pháp lệnh về giữ bí mật nhà nước thì các tài liệu này xem xong phải bảo quản cẩn mật hoặc phải huỷ như quy định, bởi vì các tài liệu đó đều có ghi dòng chữ “Tài liệu Mật, không phổ biến”. Điều đó có đúng không?
Tôi từng biết có trường hợp trước đây một cơ quan thông tin đại chúng đưa tin về việc phát hiện mỏ dầu mới trên biển Đông, ghi rõ toạ độ nơi có mỏ dầu và trữ lượng của mỏ, đã bị cơ quan có trách nhiệm “thổi còi” vì “tiết lộ bí mật nhà nước”, bởi vì các tin tức tìm kiếm, khai thác các mỏ nhiên liệu, khoáng sản quý hiếm, nhất là địa điểm có mỏ, trữ lượng mỏ…đều được coi là bí mật quốc gia nếu chưa được cơ quan và người có thẩm quyền công bố. Trong khi tin tức về sự kiện này báo chí trong nước lấy nguồn từ báo chí nước ngoài, từ chính công ty dầu khí nước ngoài liên doanh với công ty dầu khí của ta để thăm dò, tìm kiếm và khai thác dầu khí trên biển Đông. Thế thì giữ bí mật ở đây là giữ bí mật với ai?
Cách đây hơn 20 năm, lần đầu tiên các phiên chất vấn và trả lời chất vấn của các thành viên Chính phủ trước Quốc hội được truyền hình trực tiếp. Trong một lần trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội về vay nợ và trả nợ nước ngoài, Bộ trưởng Tài chính lúc đó là ông Nguyễn Sinh Hùng đã báo cáo trước Quốc hội số tiền ta vay của nước ngoài tính đến thời điểm đó là bao nhiêu, của những nước nào và hàng năm đã trả được nợ đến đâu?…Đây là những số liệu được xếp vào độ Tuyệt mật, nhưng đã được phát đi rộng rãi trên truyền hình. Vậy thì những số liệu tương tự như thế có còn được coi là Tuyệt mật nữa hay không? Rồi nữa, cách đây hơn 10 năm, trong lúc thị trường ngoại tệ biến động, tỷ giá chuyển đổi ngoại tệ lên xuống thất thường, có những đồn đoán tạo ra tâm lý lo lắng về khả năng dự trữ ngoại tệ của nhà nước và khả năng nhà nước giữ được bình ổn tỷ giá chuyển đổi ngoại tệ trên thị trường trong nước thì Thủ tướng Chính phủ đã cho công bố công khai về dự trữ ngoại tệ của nước ta trên báo chí. Việc công bố này đã làm hạ nhiệt cơn sốt thu gom ngoại tệ và làm cho những đồn đoán không chính xác về nguồn dự trữ ngoại tệ và khả năng ứng phó trước tình hình biến động về tỷ giá hối đoái lắng xuống. Như vậy, dự trữ ngoại tệ quốc gia đã không còn là con số được giữ bí mật tuyệt đối như trước. Những năm gần đây, việc Bộ Quốc phòng của ta công bố Sách trắng về hoạt động quốc phòng trong đó có những thông tin trước đây được coi là mật có thể được coi là đã có sự đổi mới về quan điểm và cách hiểu thế nào là bí mật nhà nước ngay cả trong lĩnh vực hết sức “bí mật” này.
Song trên thực tế vẫn có tình trạng nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều đơn vị muốn mở rộng phạm vi giữ bí mật nhà nước, nhiều điều không đáng, không cần giữ bí mật vẫn được quy định là mật, đóng dấu mật “cho an toàn”. Thậm chí trước đây một số Nghị định của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và bộ máy của một số bộ, cơ quan ngang bộ, hoặc Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm cán bộ cấp cao khi ban hành thì ở dưới các văn bản đó còn ghi dòng chữ “Không đưa tin trên báo đài”!
Từ những điều nêu ra trên đây, thiết nghĩ cần xem lại nhiều quy định về danh mục và phạm vi các lĩnh vực phải giữ bí mật nhà nước, xem cái nào không còn phù hợp thì phải thay đổi, nhất là cần thu hẹp phạm vi giữ bí mật trong một số lĩnh vực, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật…, không để phạm vi bảo vệ bí mật nhà nước quá rộng. Có thế mới tạo điều kiện cho báo chí hoạt động được thuận lợi và dễ dàng.
2. Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cần xem xét để kịp thời sửa đổi danh mục bí mật nhà nước cho phủ hợp với sự phát triển của xã hội đồng thời cần công bố rộng rãi các quyết định về danh mục bí mật nhà nước của các ngành các cấp đã được ban hành cho báo chí và nhân dân được biết.
Thực hiện Pháp lệnh về báo vệ bí mật nhà nước và Nghị định của Chính phủ thi hành Pháp lệnh này, các bộ, ngành, địa phương đều đã ban hành danh mục bí mật nhà nước của bộ, ngành, địa phương mình. Một số danh mục này đã được công bố, nhưng nhiều danh mục chưa được công bố, thậm chí có những Quyết định về danh mục bí mật lại được đóng dấu mật và chỉ lưu hành nội bộ. Vì thế báo chí và người dân không biết và không thể thực hiện đúng theo các quy định. Khi còn làm việc ở Văn phòng Chính phủ, tôi đã từng tranh luận với một vị Đại tá của Bộ Công an được biệt phái lên đây làm nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo trong lĩnh vực bảo vệ bí mật nhà nước về việc nên hay không nên công bố danh mục bí mật cho mọi người biết, thực hiện. Theo quan điểm của vị Đại tá này, danh mục bí mật của một số bộ, ngành cũng phải được giữ bí mật vì kẻ địch sẽ lợi dụng việc công bố danh mục bí mật để đi sâu tìm thông tin bí mật mà chúng cần đến! Vì thế không ít Quyết định ban hành danh mục bí mật nhà nước đã được đóng dấu mật, không phổ biến. Song tôi nghĩ, những Quyết định về danh mục bí mật cần phải được công bố cho mọi người biết, thực hiện, cũng như biển cấm xe đi ngược chiều phải được đặt ngay đầu con đường mà người lái xe nào cũng nhìn thấy để tuân theo. Ngay cả những điều cần giữ bí mật như trang bị vũ khí, khí tài cho quân đội hoặc công an thì bí mật ở đây là loại vũ khí, khí tài nào, số lượng trang bị cho mỗi đơn vị tác chiến là bao nhiêu, chứ không phải là bản thân mấy chữ thuộc danh mục vũ khí, khí tài cần phải giữ bí mật. Vì thế đã từng xảy ra trường hợp cách đây gần 20 năm một số tờ báo đưa tin về những “lình xình” trong hoạt động của ngành dầu khí, đưa ra một số số liệu và hoạt động của ngành này, và việc mua máy bay chuyên cơ của ngành hàng không, cả hai đều được coi là làm lộ bí mật nhà nước. Cơ quan điều tra đã vào cuộc nhưng cuối cùng không thể đưa ra xét xử trước toà án vì nhiều lý do, trong đó có một lý do chính đáng: Các Tổng Biên tập một số tờ báo này không hề được biết đến các quy định về danh mục bí mật của hai ngành nói trên vì các danh mục này cũng được giữ bí mật, không công bố công khai. Vì thế rất khó có thể quy trách nhiệm làm lộ bí mật quốc gia cho các Tổng Biên tập và các tờ báo đó. Chẳng khác nào khi đường không có biển cấm thì không thể tuỳ tiện phạt xe ô tô đi vào với lý do “vi phạm luật giao thông đường bộ” được.
3. Nhà nước cần có quy định rất cụ thể về việc giải mật thông tin, không để tình trạng nhiều thông tin không còn bí mật vẫn không được giải mật như tình trạng khá phổ biến hiện nay.
Như trên đã viết, bất cứ nước nào cũng có các quy định về bảo mật thông tin và việc giải mật. Tuỳ theo cấp độ giữ bí mật thông tin mà có nước quy định thời gian giải mật thông tin dài hay ngắn; có thông tin sau 30 năm, có thông tin sau 50 năm, thậm chí có thông tin sau 70 năm sẽ được giải mật. Pháp lệnh về bảo vệ bí mật nhà nước cũng có quy định về giải mật thông tin, song không có quy định cụ thể về thời gian giải mật. Pháp lệnh và Nghị định thi hành Pháp lệnh tuy có quy định thẩm quyền của người ban hành danh mục bí mật và việc giải mật song việc ban hành danh mục thì đã có, còn việc giải mật thì chưa làm được bao nhiêu. Trên thực tế, nhiều năm qua một số thông tin không còn tính chất bí mật như trước nhưng chưa có văn bản giải mật, khiến cho các cơ quan thông tin báo chí cũng rất lúng túng khi muốn phản ánh những thông tin này.
Sau ngày 30-4-1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ nhiều năm chúng ta đã được biết đến hoạt động tình báo của các vị tướng tình báo anh hùng Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức (Ba Quốc) và Thiếu tướng “cố vấn” Vũ Ngọc Nhạ cùng nhiều vị tình báo lừng danh khác cũng là nhờ có được quyết định giải mật những tin tức thuộc loại tuyệt mật về hoạt động tình báo của ta trong thời kháng chiến trước đây. Song chắc còn nhiều thông tin mật khác trong các hoạt động chính trị, quân sự, ngoại giao của ta vẫn còn chưa được giải mật, trong đó có những thông tin mật cách đây 40, 50 năm, thậm chí còn lâu hơn, nay chẳng còn gì là bí mật nữa. Vì thế rất cần những người có thẩm quyền sớm ban hành các quyết định về giải mật để nhiều thông tin là bí mật trước đây nay qua báo chí đến được người dân. Đó cũng là việc làm thiết thực thể hiện sự tôn trọng quyền được thông tin của nhân dân như Hiến pháp và nhiều đạo luật khác quy định.
4.Cuộc sống dang đòi hỏi phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa việc giữ bí mật nhà nước và việc mở rộng thông tin báo chí hiện nay, không để tình trạng vì muốn giữ bí mật mà hạn chế hoạt động của thông tin báo chí và ngược lại, muốn được tự do thông tin mà vi phạm các quy định về việc bảo vệ bí mật nhà nước và quyền giữ bí mật đời tư của công dân.
Tuy chuyện xảy ra đã được 7 năm song rõ ràng vụ việc Wikileaks công bố một loạt tài liệu bí mật của Chính phủ và Quân đội Mỹ trước đây đã đặt ra câu hỏi không chỉ đối với riêng nước Mỹ mà còn đối với nhiều người là làm thế nào để vừa bảo vệ được bí mật quốc gia đồng thời vẫn mở rộng được phạm vi hoạt động của các cơ quan thông tin báo chí, không để điều này làm ảnh hưởng tới điều kia và ngược lại? Đến như nước Mỹ được mệnh danh là “thế giới tự do”, báo chí được “thả cửa thông tin” mà, theo như thông tin từ chính báo chí nước ngoài, thì “Các thượng nghị sỹ Mỹ đã thông qua một dự luật nhằm trừng phạt Julian Assange và trang mạng WikiLeaks, theo đó quy định việc công bố danh tính nguồn tin của lực lượng quân đội và tình báo Mỹ là phạm luật”. Qua đó đủ biết việc giữ gìn và bảo vệ bí mật nhà nước là việc mà không một quốc gia nào không làm và công dân mỗi nước không thể không thực hiện. Song, không thể lấy cớ vì bảo vệ bí mật nhà nước (thậm chí có những điều quy định bí mật lại không thuộc phạm vi bí mật nhà nước mà chỉ là quy định riêng của một số cơ quan, đơn vị) mà hạn chế hoạt động của các nhà báo, hạn chế thông tin trên báo chí.
Đã qua rồi thời kỳ mọi thông tin trên báo chí đều được kiểm soát gắt gao như trong những năm chiến tranh. Nước ta hiện đang trong tiến trình tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, tham gia “cuộc chơi chung toàn cầu”, thông tin báo chí ngày càng mở rộng. Hơn nữa thời đại hiện nay được coi là thời đại bùng nổ thông tin, theo số liệu mới nhất, trên 36 triệu người dân Việt Nam có facebook cá nhân, hàng ngày tiếp nhận “thông tin toàn cầu”, nên không thể lấy tư duy và cách quản lý cũ để hạn chế thông tin như trước đối với hoạt động của các cơ quan thông tin đại chúng. Đồng thời cũng không thể tự do thông tin theo kiểu “có gì đưa nấy” bất chấp lợi hại đối với lợi ích quốc gia và xâm phạm đời tư công dân. Thật là dễ hiểu, hành động của ông Julian Assange, chủ trang Wikileaks, sau khi tiếp nhận tất cả các thông tin mật từ các nguồn nặc danh gửi đến đã đưa hết lên mạng Internet, như đã làm vào ngày 28/11/2010, tạo ra sự kiện bùng nổ được coi như là một vụ ” tấn công 11/9 ” vào cơ quan ngoại giao và vào Chính phủ Mỹ, đã khiến cho nhiều nhà lãnh đạo Mỹ và nhiều nước được xếp vào hàng tự do báo chí nhất trên thế giới phải lên tiếng phản đối, đến mức Phó Tổng thống Mỹ trước đây là Joe Biden đã gọi Julian Assange là “một phần tử khủng bố công nghệ cao” nguy hiểm và cho biết Washington theo đuổi hành động pháp lý đối với ông này, mặc dù nhiều người, trong đó có các nhà báo nổi tiếng ở Úc, ở Anh và một số nước khác bênh vực cho hành động của Julian Assange .
Tuy sự kiện Wileaks xảy ra cách đây đã 7 năm nhưng đến nay vấn đề “mật” hay “không mật” vẫn còn có tính thời sự trong đời sống xã hội, không chỉ đối với nhiều nước, đặc biệt là đối với nước ta đòi hỏi cách suy nghĩ và cách tiếp cận mới, kể cả từ hai phía, phía các cơ quan bảo vệ bí mật nhà nước và phía các cơ quan thông tin, báo chí và cả với các cá nhân sử dụng các trang mạng xã hội, như Website hoặc Facebook.
Việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng thông báo kết luận kiểm tra vụ việc ở Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã nêu ở trên và một vài kết luận các vụ việc kiểm tra đã được thông báo trước đó đặt ra việc cần phải đổi mới tư duy và tiếp cận vấn đề thế nào là “Mật” và thế nào là “Không mật” hiện nay. Không thể chỉ cực đoan nhấn mạnh một chiều, bí mật để hạn chế thông tin và ngược lại, tự do thông tin bất chấp luật pháp, xuyên tạc sự thật, nói xấu, vu khống, xâm phạm đời tư công dân…

Dương Đức Quảng

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author