Luật Khoa Tạp chí đã bịa đặt ra sao về dự luật An ninh mạng?

Luật Khoa Tạp chí đã bịa đặt ra sao về dự luật An ninh mạng?
Một bài viết được đăng trên Luật Khoa Tạp chí vào ngày 4/11/2017 đã đưa ra một kết luận gây chấn động: Dự luật An ninh mạng do Bộ Công An Việt Nam gửi tờ trình lên chính phủ giống với Trung Quốc. Khi đọc qua bài viết, người đọc rất dễ bị lái hướng rằng Bộ Công An Việt Nam đã bị chính phủ Trung Quốc thao túng, và có lẽ, đây chính là mục đích chính của bài viết. Chúng ta sẽ quay trở lại vấn đề “mục đích” này ở đoạn sau. Bây giờ, chúng ta hãy thử đọc kỹ và tìm hiểu rõ hơn về luận điểm được đưa ra để chứng minh rằng Luật An ninh mạng của Bộ Công An trình lên cho chính phủ giống với của Trung Quốc.
Đầu tiên, ta phải xem xét đến một thừa nhận rất trung thực của tác giả: “Cần phải làm rõ rằng tôi không có bằng chứng nào về việc chính phủ Việt Nam sao chép luật của Trung Quốc.” Như thế, ta có thể thấy rằng, đây là một bài viết thiếu cơ sở học thuật mà hoàn toàn chỉ dựa trên những suy đoán của tác giả. Đây là lối viết thịnh hành trong xới dân chủ, được đặt nền móng bởi tạp chí Tổ Quốc của Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Gia Kiểng; được phát triển quy mô rộng bởi Bauxite Việt Nam của nhóm 72 nhân sĩ trí thức mà đứng đầu là Nguyên Ngọc và Nguyễn Huệ Chi, và đến nay đã được trẻ hóa bởi Luật Khoa tạp chí của Trịnh Hữu Long và Đoan Trang. Thay vì phê phán các vấn đề luật pháp ở Việt Nam một cách có khoa học và logic thì Luật Khoa tạp chí lại chuyển sang hướng chém gió và bịa đặt. Mà ở đây, họ đã bất chấp sự thật để tìm cách gán ghép và buộc tội Bộ Công An Việt Nam có mối liên hệ với Trung Quốc.
Lập luận đầu tiên Luật Khoa đưa ra đó là: “Có một thuật ngữ mà chúng ta cần để ý trong dự luật của Việt Nam, đó là “hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia”, quy định tại Điều 9. Trong Luật An ninh mạng của Trung Quốc cũng có một thuật ngữ tương tự: “cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng” (critical information infrastructure), quy định tại Điều 31. Đây là một trong những thuật ngữ trung tâm của hai luật này, và định nghĩa của hai luật cũng rất giống nhau: chúng đều chỉ những thông tin mà nếu bị xâm hại thì sẽ làm nguy hại đến an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội.” Bài báo này cho rằng chính sự tương đồng về thuật ngữ này là lý do Dự luật An ninh mạng Việt Nam giống một bản sao của Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu bạn search thử cụm từ “critical information infrastructure” thì sẽ thấy rằng cụm từ này được sử dụng ở văn bản của rất nhiều quốc gia khác như Ấn Độ, Singapore và được sử dụng khá thông dụng trên mạng. Thuật ngữ này là một thuật ngữ IT, đã được định nghĩa bởi Fandom, một từ điển liên quan đến các các điều luật Internet. Fandom định nghĩa như sau: “Nó bao gồm các hệ thống, dịch vụ, mạng lưới và cơ sở hạ tầng tạo thành một phần quan trọng trong nền kinh tế và xã hội của một quốc gia, cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu hoặc cấu thành nền tảng cơ bản của các cơ sở hạ tầng quan trọng khác. CII (viết tắt của “critical information infrastructure”) bao gồm mạng điện thoại công cộng, Internet, mạng mặt đất và vệ tinh không dây. Chúng được coi là cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng vì sự gián đoạn hoặc hủy hoại chúng sẽ có tác động nghiêm trọng đến các chức năng xã hội quan trọng.” ( http://itlaw.wikia.com/wiki/Critical_information_infrastructure ) Thậm chí, năm 2007, một cuốn sách của Tây Ban Nha có tên “National Critical Information Infrastructure” được xuất bản ( https://books.google.com.vn/books?id=vlRsCQAAQBAJ&pg=PA286&lpg=PA286&dq=critical+information+infrastructure+wikipedia&source=bl&ots=aJuYxKgyLX&sig=Aj_5Yw04K53469Cv1i-4OPVOw0g&hl=vi&sa=X&ved=0ahUKEwiiz82v6MzXAhXCo5QKHSObDIMQ6AEIeDAJ#v=onepage&q=critical%20information%20infrastructure%20wikipedia&f=false ) Ở Ấn Độ, một tổ chức có tên National Critical Infrastructure Protection Centre cũng được thành lập. Như vậy, khái niệm mà tác giả bài báo cho rằng tương đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc hóa ra lại là một thuật ngữ khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là trong ngành An ninh mạng. Những thông tin vừa cung cấp trên không quá khó khi tìm trên Internet nhưng người viết bài vẫn hoàn toàn lờ tịt đi để đạt được mục đích bài viết của mình.
Lập luận thứ hai đưa ra là Dự luật An ninh mạng Việt Nam “Nhắm trực diện đến thông tin nguy hiểm cho chế độ”. Đây là điều hiển nhiên trong vấn đề An ninh quốc gia. Bởi vì ngay cả Mỹ và Châu Âu cũng không cho phép các công dân lợi dụng quyền tự do ngôn luận để kích động bạo lực, kêu gọi khủng bố hay cung cấp thông tin mật trên phương tiện Internet. Thế nên, việc cả Trung Quốc và Việt Nam đưa ra các điểm này trong dự luật là một điều hết sức bình thường.
Lập luận thứ ba là “Ép người dùng cung cấp thông tin thật”. Đây lại là một điều bắt buộc hiển nhiên nữa. Ở Mỹ và Châu Âu, khi một người đăng ký tài khoản điện thoại hay các dịch vụ Online, đều phải cung cấp thông tin thực sự. Chỉ có những dark web, tức là những website phi chính thống hoạt động phi pháp mới cho phép người sử dụng ẩn danh.
Lập luận thứ tư là “Đặt máy chủ trong nước và truyền dữ liệu ra nước ngoài”. Đây là vấn đề thuộc về kỹ thuật. Bởi vì, khi lượng người dùng của một dịch vụ lên cao, việc đặt máy chủ ở một quốc gia nào đó sẽ giúp tăng tốc độ truy cập. Như ta đã biết, Trung Quốc có dân số đông nhất thế giới, như thế, để đảm bảo tốc độ truy cập đi kèm với bài toán kinh tế, các tập đoàn công nghệ thông tin sẽ chủ động chọn đặt máy chủ ở quốc gia này. Đi kèm với hệ thống máy chủ là đội ngũ nhân viên chăm sóc các khách hàng. Hãy tưởng tượng, một khi một máy chủ Facebook được đặt ở Việt Nam, chúng ta sẽ không còn phải gặp rắc rối kiện cáo khi Facebook có các thuật toán sai.
Lập luận thứ năm là “Ép người dùng và doanh nghiệp thành chỉ điểm”. Đây là vấn đề không chỉ xảy ra ở Trung Quốc và Việt Nam mà còn cả ở Mỹ và trên toàn thế giới. Dữ liệu của người dùng vẫn thường xuyên bị vi phạm bởi các tập đoàn này. Các tập đoàn cung cấp dịch vụ Internet bán dữ liệu của người dùng thả cửa không chỉ cho chính phủ và cho các tập đoàn và doanh nghiệp tư nhân khác. ( https://news.zing.vn/cong-ty-buon-ban-du-lieu-ca-nhan-cua-moi-cong-dan-my-post674645.html ) Chính phủ với vai trò là đại diện cho nhân dân, được quyền quốc hữu hóa các dữ liệu cá nhân từ người dùng ấy thay vì thả nổi trên thị trường.
Lập luận thứ sáu là “Ép doanh nghiệp công nghệ tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật do nhà nước ban hành”. Lập luận này của bài viết hoàn toàn xuyên tạc. Việc yêu cầu các dịch vụ mạng tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật là điều cần thiết để phục vụ quyền lợi của người dùng. Tuy nhiên, việc này không liên quan gì đến việc sử dụng các phần mềm kiểm duyệt như ở Trung Quốc. Tác giả đã cố biến một vấn đề thuần túy kỹ thuật thành một vấn đề chính trị bằng các suy đoán thiếu cơ sở của mình.
Lập luận thứ bảy là “Ép đơn vị liên quan đến “thông tin quan trọng” khi mua phần cứng và phần mềm phải qua thẩm định của chính quyền”. Theo như thuật lại của tác giả thì sự tình như sau: “Điều 11, Điều 16, Điều 48 của dự luật An ninh mạng trao quyền cho Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và một số cơ quan nhà nước khác được kiểm tra các thiết bị, ứng dụng mạng liên quan đến hệ thống thông tin quan trọng quốc gia trước khi đưa vào vận hành hay nâng cấp. Điều 35 của Luật An ninh mạng Trung Quốc cũng có quy định tương tự.” Như chúng ta đã biết Internet có nền tảng kỹ thuật từ Mỹ và các máy chủ được đặt tại Mỹ. Nếu như chính phủ Mỹ lợi dụng Facebook hay Google để theo dõi các quốc gia khác, hoặc thậm chí tấn công các quốc gia khác bằng dư luận thì đó là một hiểm họa lớn. Cái mà chúng ta được biết là Internet không thuộc về quốc tế như chúng ta tưởng, mà thuộc về quyền sở hữu của các tập đoàn Mỹ và bị kiểm soát bởi chính phủ Mỹ. Mỹ đương nhiên cần phải giương cao lá cờ Tự do Internet bởi vì đó là cơ sở cho quốc gia này dễ dàng thâm nhập vào các thế lực đối thủ của mình. Nếu muốn có Tự do Internet thật sự thì Mỹ và các tập đoàn cần phải dừng ngay các hành vi thao túng của mình lại. Thế nên, điều luật vừa kể trên dù ở Trung Quốc, Việt Nam hay bất cứ quốc gia nào không thuộc phe thân Mỹ cũng chỉ là một phản ứng tự vệ trước sự bành trướng quyền lực của Mỹ mà thôi.
Tóm lại, đây là một bài viết thiếu cơ sở pháp lý, thiếu kiến thức kỹ thuật, và diễn giải một cách bóp méo theo hướng suy luận của tác giả. Một điều đáng tiếc, tác giả lại chính là Trịnh Hữu Long, chủ bút của Luật Khoa Tạp chí. Hãy tưởng tượng, người đọc đã donate cho tạp chí này 35.000 USD mỗi năm để đọc những bài viết kém chất lượng, mang tính định hướng dư luận, giống như bài viết của chủ bút Trịnh Hữu Long. Với những trang như Luật Khoa tạp chí, có lẽ các điều luật liên quan đến phát ngôn không chỉ dừng lại ở quyền tự do ngôn luận mà cần ràng buộc họ bằng các trách nhiệm trong phát ngôn và cung cấp thông tin.
GĐTQT

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author