Lá thư từ Mỹ – NHỮNG NỮ PHÓNG VIÊN MẶT TRẬN CỦA VIỆT NAM TRONG GIÁO TRÌNH BÁO CHÍ MỸ

Lá thư từ Mỹ – NHỮNG NỮ PHÓNG VIÊN MẶT TRẬN CỦA VIỆT NAM TRONG GIÁO TRÌNH BÁO CHÍ MỸ

Một ngày đầu xuân 2002, năm chị: Nguyễn Thị Kim Thoa, Triệu Thị Thuỳ, Hoàng Tuyết Trinh, Cao Tân Hoà và Nguyễn Phương Thảo, nguyên phóng viên của Thông tấn xã Giải phóng trong những năm chiến tranh tại miền Trung và miền Đông Nam bộ, nhận được một lá thư từ nước Mỹ. Thư viết:

“Gửi những người bạn Việt Nam
Thoa, Thuỳ, Trinh, Hoà, Thảo…thân mến,
Đã lâu rồi, kể từ khi chúng tôi gặp các bạn, chúng tôi vẫn luôn luôn nhớ tới các bạn. Chúng tôi muốn gửi tới các bạn một chút quà Tết và những lời chúc tốt đẹp nhất cho một năm mới dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc và thịnh vượng.
Như là một dấu hiệu của tình bạn và với một món quà Tết muộn màng, chúng tôi gửi đến các bạn một số tặng phẩm từ Trường Đại học Tây Virginia và một số vật lưu niệm của Khoa báo chí.

Chúng tôi đang làm việc miệt mài về cuốn sách và bộ phim, đồng thời đang tìm thêm tài trợ để hy vọng có thể quay lại Việt Nam một ngày gần đây…

Rất cảm ơn sự rộng lượng và lòng tốt của các bạn đối với chúng tôi trong thời gian chúng tôi ở Việt Nam . Cảm ơn các bạn đã cho chúng tôi được nghe những câu chuyện xúc động của mình, mời chúng tôi ăn cơm, đến nhà thăm gia đình các bạn…Cảm ơn tất cả tình cảm của các bạn đã dành cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên những người bạn và đồng nghiệp của chúng tôi ở Hà Nội. Những câu chuyện của các bạn đã gây xúc động không những đối với chúng tôi mà còn đối với cả nhiều người trên thế giới.

Một lần nữa chúng tôi xin chúc các bạn và xin chuyển tới gia đình các bạn tình cảm cùng những lời chúc tốt đẹp nhất của chúng tôi, chúc một năm mới hạnh phúc. Chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau!

Christime Martin
Maryane Reed”.
Hai người ký tên trong bức thư, bà Christime Martin là Chủ nhiệm Khoa báo chí Trường Đại học Tây Virginia và bà Maryane Reed là Phó Giáo sư cùng Khoa báo chí trường Đại học này.

Câu chuyện này cần được kể lại
“ Câu chuyện này cần được kể lại”, bà Christime Martin đã nói như vậy với những người bạn về cuốn sách và cuốn phim tài liệu của bà nói về những nữ phóng viên của Việt Nam và của Mỹ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam .
Christime Martin bắt đầu nghiên cứu và chuẩn bị cho cuốn sách của mình từ 13 năm về trước khi đang làm luận văn tốt nghiệp Khoa báo chí Trường Đại học Tây Virginia, về đề tài các nữ phóng viên chiến trường của Mỹ. Lúc đó bà thấy rằng có rất ít thông tin công khai có sẵn để bà tập hợp tư liệu. Sau đó bốn năm, bà đề nghị Phó giáo sư Maryane Reed, chuyên giảng về truyền hình tham gia làm một cuốn phim về đề tài nghiên cứu của bà.

Mùa xuân năm 2000, nhân dịp 25 năm ngày Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Christime Martin và Maryane Reed đã mời bảy cựu nữ phóng viên Mỹ tham gia một cuộc hội thảo khá qui mô để họ nói về những hoạt động của mình trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Cuộc hội thảo này thu hút 400 người tham dự và trở thành một sự kiện đáng chú ý khi được hãng truyền hình C-SPAN và một hãng truyền hình lớn khác ở Mỹ đưa tin. Nhưng ngay từ khi bắt tay vào việc, một câu hỏi, đúng ra là một nỗi niềm thôi thúc, day dứt luôn đặt ra đối với Christime Martin và Maryane Reed: Tại sao lại chỉ đề cập tới các nhà báo nữ của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam ? Các nhà báo nữ của Việt Nam trong chiến tranh thì sao? Để tìm câu trả lời, hai người phụ nữ Mỹ này bay sang Việt Nam .

Lần đầu tiên đặt chân tới Việt Nam, thông qua các cơ quan có trách nhiệm của nước ta, tại Hà Nội, Christime Martin và Maryane Reed được giới thiệu gặp bốn nhà báo nữ của Thông tấn xã Việt Nam từng là phóng viên Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) tại chiến trường Trung Trung bộ trong những năm 1970, là : Hoàng Tuyết Trinh, Lê Kim Thoa, Cao Tân Hoà và nhà báo Nguyễn Phương Thảo, nữ phóng viên ảnh của TTXGP hoạt động tại Đông Nam Bộ trong những năm chiến tranh. Những cuộc gặp gỡ, phỏng vấn của Christime Martin và Maryane Reed với các nữ nhà báo này, nhất là với ba nữ nhà báo cùng hoạt động trên chiến trường Khu V đã để lại cho hai người những ấn tượng sâu sắc. Christime Martin nói: “Chưa ai được nghe thấy những câu chuyện đó ở ngoài Việt Nam . Công việc của tôi là công trình của cả một đời người. Phải rất may mắn mới được gặp những người phụ nữ này và được nghe họ kể lại những câu chuyện của mình. Những câu chuyện này cần phải được kể cho mọi người biết…”.

Christime Martin và Maryane Reed đã trở lại Việt Nam lần thứ hai vào tháng 8 năm 2001. Lần này, ngoài bốn nữ phóng viên trên đã gặp từ lần trước, hai bà còn gặp thêm chị Triệu Thị Thuỳ, cũng là một nữ phóng viên TTXGP tại Khu V trước đây, khi ấy là Phó Giám đốc Cơ quan đại diện TTXVN tại thành phố Đà Nẵng…

Những thông tin tìm hiểu trong hai lần sang Việt Nam gặp và phỏng vấn các nữ phóng viên chiến trường này khiến hai bà kinh ngạc: không phải chỉ có 5 hay 50 mà có gần một trăm nhà báo nữ của Việt Nam đã trở thành phóng viên chiến trường. Nhiều người trong số họ đã không trở về hoặc trở về không nguyên vẹn sau cuộc chiến tranh. Những câu hỏi hai bà đặt ra cho các nữ phóng viên chiến tranh của Mỹ, nay được lặp lại đối với các nữ phóng viên chiến trường của Việt Nam : “Tại sao bà trở thành phóng viên chiến trường? Tại sao bà viết được những bài báo (chụp được những bức ảnh) như vậy? Những tình huống nào làm cho bà run sợ nhất? Những khó khăn của một phóng viên nữ ở chiến trường ?” v.v và v.v…

Câu hỏi thì chung, nhưng những câu trả lời mà Christine Martin và Maryane Reed nhận được thì khác nhau ghê gớm. Những nữ phóng viên chiến trường của Mỹ sang Việt Nam hầu như thuần tuý vì lý do nghề nghiệp: họ muốn khẳng định tên tuổi của mình hoặc muốn thử sức mình trong một công việc mang tính mạo hiểm phần nhiều dành cho đàn ông. Nhiều người sang Việt Nam , trở thành phóng viên chiến trường vì một lý do nghiêm túc và chính đáng: tìm một công việc có thu nhập cao hơn ở Mỹ ! Một số khác, không nhiều lắm, muốn tìm hiểu sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam xuất phát từ quan điểm chính trị riêng. Cũng có người đơn giản chỉ muốn đến Việt Nam như tìm đến một vùng đất lạ, như đi du lịch để thoả mãn chí tò mò.

Ngược hẳn lại với các câu trả lời của các cựu nữ phóng viên chiến tranh của Mỹ về nguyên nhân trở thành phóng viên chiến tranh, những câu trả lời của các nữ phóng viên chiến trường của Việt Nam thì chỉ có một: chúng tôi tình nguyện ra mặt trận như những người lính tham gia vào cuộc chiến đấu của toàn dân tộc, vì độc lập, thống nhất và hoà bình. Những lời lẽ thoạt nghe có vẻ như to tát và công thức ấy được thể hiện một cách giản dị và chân thực qua từng lời kể của các cựu nữ phóng viên chiến trường của Việt Nam đã khiến cho Christine Martin và Maryane Reed thật sự xúc động và không ít lần không cầm được nước mắt. Gần 30 năm trước, Hoàng Tuyết Trinh, Lê Kim Thoa, Cao Tân Hoà, Triệu Thị Thuỳ, Nguyễn Phương Thảo đều tốt nghiệp trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học sư phạm ngoại ngữ cùng một khoá và cùng xung phong vào chiến trường, người nhiều tuổi nhất chưa quá 23. Không một ai trong số họ được đào tạo chính qui để trở thành nhà báo, mà chỉ qua một lớp học ngắn hạn do Thông tấn xã Việt Nam mở, họ đã có mặt tại Quảng Nam , Quảng Ngãi, Bình Định, Tây Ninh… để trở thành phóng viên chiến trường của TTXGP. Công việc của một phóng viên chiến trường không có sự phân biệt đàn ông hay đàn bà và bom đạn chẳng chừa một ai. Tin tức từ mặt trận luôn luôn đòi hỏi phải được truyền tải nhanh nhất, bất kể là nam hay nữ phóng viên. Triệu Thị Thuỳ đã từng bị thương như một người lính tại mặt trận Quảng Ngãi. Còn Hoàng Tuyết Trinh, Lê Kim Thoa, Cao Tân Hoà, Nguyễn Phương Thảo đã trải qua những tháng năm ba lô nặng trĩu trên vai hành quân theo các đơn vị bộ đội, chịu đựng đói, rét, bệnh tật và cả những rắc rối riêng của người phụ nữ trong cuộc sống hàng ngày ở mặt trận mà không phải ai cũng thấu hiểu, thông cảm. Nhiều khi họ không sợ bom đạn mà chỉ sợ vài con vắt nhỏ bám chân mỗi khi qua những cánh rừng ẩm ướt hay những ngày mưa rầm của rừng Trường Sơn không còn quần áo khô để mặc…

Sau này, một bạn đồng nghiệp của họ, nhà báo Như Nguyễn nhớ lại trong một bài viết của mình: “Chiến tranh đã sớm cho họ một cái nhìn thực tế. Trong ba-lô không được thiếu cái rút dép. Dẫu đơn giản đến thế nhưng lỡ thiếu nó, lỡ đánh rơi đâu đó thì thật tai vạ. Một bao ni-lông không thủng để qua sông, qua suối luôn có sẵn trong ba-lô; không quên lọ dầu “cù là”, ít lon muối dự trữ để khi cần đổi lấy chút gạo, vài củ mì (sắn) trên dọc đường đi…Chỉ mới mấy tháng vào chiến trường, sắc diện các cô đã không dễ nhận ra được nữa. Nước da xanh xao, chân đi xuống suối xem chừng không vững. Song trên gương mặt vẫn nguyên vẹn nụ cười hồn nhiên…Đêm đêm, họ chong lên ngọn đèn chỉ bằng hạt đỗ, mải miết viết bài điện ra Tổng xã. Ngỡ ngàng với nghề nghiệp, bộn bề những sự kiện. Những vùng đất nóng bỏng vừa đi qua. Những con người cùng được sống: du kích, cán bộ xã ấp, những cơ sở nội tuyến…, bình dị thế từ việc làm, từ lời nói mà sao không viết nổi. Viết rồi xoá, viết rồi lại viết nữa…”.

Christine Martin đặc biệt xúc động khi nghe nữ nhà báo Cao Tân Hoà kể về những ngày làm báo tại chiến trường Bình Định năm 1974, “ba-lô con cóc, cây bút và quyển sổ đi về Hoài Ân, Hoài Nhơn, Tam Quan” giữa những đợt pháo kích hoặc những trận bom toạ độ để đưa tin chống lấn chiếm của địch sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam 1973. “Không chỉ là tin tức, mà chính là tình cảm của tôi, lòng mong nhớ của tôi gửi tới gia đình, đồng đội, người yêu của tôi. Chỉ bằng cái tên ký dưới mỗi bài viết, tôi muốn nhắn nhủ với mọi người rằng chúng tôi vẫn còn sống, vẫn viết và vẫn nhớ đến tất cả những người thân yêu của mình”. Điều đó, cả Christime Martin và Maryane Reed đều chưa từng nghe trong các lời kể hoặc ẩn chứa trong các bản tin chiến sự vào giờ chót của những cây bút tên tuổi trong chiến tranh Việt Nam của của các hãng thông tấn Mỹ như Laura Palmer, Gloria Emerson của UPI hay AP.

Từ Việt Nam trở về, Christime Martin và Maryane Reed ghi nhận: Trong chiến tranh Việt Nam, có 120 nhà báo nữ nước ngoài đã đăng ký vào Việt Nam và có khoảng 50 nhà báo đã ở đây với tư cách phóng viên thường trú. Phía Việt Nam , các nhà báo nữ ở chiến trường cũng không ít hơn con số ấy. Và có rất nhiều người đã hy sinh, trở thành liệt sỹ, như nhà báo nổi tiếng Dương Thị Xuân Quý hy sinh tại chiến trường Quảng Đà, hay như nữ phóng viên trẻ mới vào nghề Phạm Kim Oanh – người bạn thân của nữ nhà báo Cao Tân Hoà, hy sinh khi mới vào chiến trường, ngay trên đường Hồ Chí Minh, khi mới ngoài 20 tuổi. Và, còn biết bao nhà báo khác đã nằm xuống…

Cũng như biết bao phụ nữ tham gia chiến tranh, những nữ nhà báo ở chiến trường ngày nào, sau chiến thắng 1975 đã trở về với cuộc sống bình dị như biết bao người dân bình thường khác. Nếu như không có cuộc gặp gỡ trên đây của hai người phụ nữ Mỹ thì nhiều người có gặp họ cũng chẳng hình dung ra họ đã có một thời là những nữ phóng viên chiến trường của Việt Nam!

Từ các cuộc gặp đến bục giảng của trường Đại học

Khoa báo chí của trường Đại học Tây Virginia , Mỹ do Christine Martin làm Chủ nhiệm khoa hiện có 570 sinh viên theo học, trong tổng số 23.000 sinh viên của trường. Ngoài cương vị Chủ nhiệm khoa, từ nhiều năm nay bà Christine Martin còn trực tiếp giảng dạy môn Lịch sử báo chí cho nhiều thế hệ sinh viên. Từ khoá học mới này, bà dự kiến trong chương trình học của họ sẽ có thêm một loạt bài giảng về báo chí trong chiến tranh Việt Nam , trong đó có đề tài về hoạt động của các nhà báo nữ Mỹ và Việt Nam trong chiến tranh. Cuốn sách và bộ phim tài liệu mà Christime Martin và Maryane Reed đang thực hiện sẽ là những tài liệu sống và những tư liệu minh hoạ sinh động góp phần quan trọng vào thành công của các bài giảng sau này.
Khi trả lời các bạn đồng nghiệp và báo chí Mỹ, cả Christime Martin và Maryane Reed đều nói đang chuẩn bị trở lại Việt Nam lần thứ ba để tiếp tục công việc của mình. Christime Martin hy vọng sẽ hoàn thành cuốn sách của mình vào đầu năm tới, còn Maryane Reed dự định hoàn thành cuốn phim của mình trong hai năm. Họ đang tính tới chuyện tổ chức cho các nhà báo nữ trong chiến tranh Việt Nam của Mỹ và của Việt Nam gặp nhau, bởi: “Đối với những người phụ nữ này, dù là người Mỹ hay người Việt Nam, chiến tranh đã chiếm một vị trí đặc biệt trong cuộc đời họ…”.

Trở lại Việt Nam lần này, Christime Martin còn dự định tiếp tục xúc tiến các công việc để có thể tiến hành một dự án hợp tác đào tạo và trao đổi sinh viên giữa Khoa báo chí trường Đại học Tây Virginia với Khoa Báo chí của một trường đại học ở Việt Nam, bổ sung thêm tài liệu để thay đổi chương trình giảng dạy sắp tới của bà. Điều làm cho bà thú vị hơn cả, có lẽ là hai lần từ Việt Nam trở về bà đã “khám phá” ra một kiểu làm báo khác, không giống với “công nghệ làm báo hiện đại” mà các trường Đại học của Mỹ đang giảng cho sinh viên của mình.

Đúng như lời Christime Martin đã nói trong lần tạm biệt các nữ nhà báo Việt Nam tháng 8-2001, từ Việt Nam trở về bà lại có thêm sự thôi thúc mới để trở lại Việt Nam: “Những thước phim, những hình ảnh, câu chuyện…tôi sẽ mang theo về nước, riêng tình cảm với các bạn, với Việt Nam, tôi dành lưu giữ trong trái tim tôi””.

Vĩ thanh
Sau bài viết trên đây của tôi, Christime Martin và Maryane Reed còn trở lại Việt Nam và mỗi khi có bạn đồng nghiệp là nhà báo Mỹ sang Việt Nam, hai bà đều gửi sách và tặng phẩm nho nhỏ cho năm nhà báo nữ “Việt Cộng” năm xưa. Khi nghe tin con trai của nữ nhà báo Triệu Thị Thuỳ đang học đại học thì bị bệnh nặng, phải ghép thận, cả Christime Martin và Maryane Reed đều gửi thư sang thăm, chia sẻ với nỗi buồn này của nữ nhà báo “Việt Cộng”. Hai bà còn gửi qua bưu điện 500 USD để cùng với bạn bè chị Triệu Thị Thuỳ giúp đưa cháu ra nước ngoài ghép thận.

Gần đây, nữ nhà báo Nguyễn Phương Thảo, nguyên là phóng viên nhiếp ảnh của Thông tấn xã Giải phóng Nam Bộ đã mất vì bị ung thư. Còn bốn nữ nhà báo: Hoàng Tuyết Trinh, Cao Tân Hòa, Lê Thị Kim Thoa, Triệu Thị Thuỳ thì đều đã về hưu hơn mười năm nay, mỗi người mỗi cảnh, nhưng vẫn thường xuyên gặp nhau, nhất là vào dịp 40-4 để cùng nhau ôn lại những kỷ niệm của những ngày làm báo trong kháng chiến chống Mỹ không bao giờ quên./.

Chú thích ảnh: Từ trái sang: Hoàng Tuyết Trinh, Cao Tân Hoà, Lê Thị Kim Thoa, Triệu Thị Thuỳ (ảnh chụp năm 1973 và năm 2015).
anh1

anh2

Dương Đức Quảng

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author