Điểm tin lề trái số 38: 40 năm Chiến tranh Biên giới Việt – Trung: người mong hòa bình, kẻ hô thù hận

Điểm tin lề trái số 38: 40 năm Chiến tranh Biên giới Việt – Trung: người mong hòa bình, kẻ hô thù hận

Chào các bạn. Đây là chương trình Điểm tin Lề trái số 38, soạn vào ngày Chủ nhật, 17/02/2019. Như thông lệ, chúng tôi sẽ điểm lại những sóng truyền thông lề trái trong tuần này, và chỉ ra những sự thật thú vị mà các bạn chưa chú ý trong mỗi sóng.

40 năm Chiến tranh Biên giới Việt – Trung: người mong hòa bình, kẻ hô thù hận

Trong suốt tuần qua, dư luận phi chính thống đã tập trung khai thác dịp kỷ niệm 40 năm Chiến tranh Biên giới Việt – Trung, sẽ diễn ra vào ngày Chủ nhật, 17/02/2019. Tương tự những năm trước, hầu hết giới chống đối tiếp tục nhấn mạnh vào mâu thuẫn, hận thù giữa Việt Nam và Trung Quốc, để lan truyền tâm lý bài Trung cực đoan, thứ mà họ thường tận dụng để hoạt động. Điểm khác biệt, trong những năm trước, dư luận phi chính thống thường đả kích rằng Nhà nước đang “xóa lịch sử”, “ngăn cấm bàn luận” về Chiến tranh Biên giới Việt – Trung. Tuy nhiên, trong năm nay, báo chí chính thống đăng khá nhiều bài về sự kiện này; và một số tướng lĩnh, cựu lãnh đạo Nhà nước cũng công khai phát biểu rằng cuộc chiến là một phần lịch sử của dân tộc, cần được ghi nhớ. Vì vậy, khi bàn về thái độ của Nhà nước với cuộc chiến, dư luận phi chính thống đang phân hóa theo hai chiều trái ngược nhau.

Ở chiều thuận, Mai Phan Lợi, Ngô Nhật Đăng, Hoàng Dũng, Phạm Ngọc Hưng nói trên BBC tiếng Việt rằng Ban Tuyên giáo đang “gỡ barrier”, cho báo chí chính thống “nói thoải mái” về cuộc chiến, dù đây từng được xem là “chủ đề nhạy cảm”. Ở chiều chống, Phạm Đoan Trang kêu gọi giới chống đối “đề cao cảnh giác với Đảng”, tiếp tục “chửi” Nhà nước và báo chí chính thống. Trang giải thích rằng Nhà nước Việt Nam là “độc tài”, là xấu, nên phải bị “chửi bền vững”. Tương tự thái độ của Trang, Nguyễn Tường Thụy viết rằng rằng nếu Nhà nước ngăn giới chống đối tổ chức các lễ tưởng niệm vào ngày 17/02, thì đó “chỉ có thể là sự phản bội”.

Ngoài ra, khi giáo sư Phạm Hồng Tung (Chủ biên sách giáo khoa môn Lịch sử) phát biểu rằng “dịp 40 năm Chiến tranh Biên giới là lúc giới sử học 2 nước nên ngồi lại, thảo luận về những nguyên tắc cơ bản để dạy về những vấn đề liên quan”, cánh chống đối cực đoan cũng ồ ạt bình luận rằng ông Tung đang hỏi kẻ xâm lược xem nên viết thế nào về cuộc xâm lược.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 4 nhận xét.

Thứ nhất, từ nhiều năm nay, báo chí chính thống Việt Nam đã nói thẳng rằng Chiến tranh Biên giới Phía Bắc năm 1979 là một cuộc xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam. Như vậy, không có bằng chứng vững chắc để khẳng định rằng Ban Tuyên giáo vừa “tháo barrier”, để cho phép báo chí chính thống viết về chủ đề này một cách tự do hơn trong năm nay. Có lẽ các tờ báo đã tự tăng lượng bài viết về chủ đề này, do năm nay là dịp kỷ niệm 40 năm Chiến tranh Biên giới.

Thứ hai, dù phát ngôn của giáo sư Phạm Hồng Tung dễ khiến dư luận hiểu lầm, thực ra nó hợp lý trên 2 điểm. Một: nó giúp tránh những cuộc khủng hoảng ngoại giao không cần thiết, tương tự các cuộc khủng hoảng giữa Nhật Bản và Trung Quốc, Hàn Quốc vào những năm 1985 và 2001, khi Nhật sửa sách giáo khoa môn Lịch sử theo hướng phủ nhận tội ác của quân đội Nhật trong Thế Chiến II. Hai: nếu muốn bảo vệ sự thật, nên để cuộc thảo luận này diễn ra giữa các nhà sử học thay vì các nhà chính trị.

Thứ ba, qua những phát ngôn của Phạm Đoan Trang trong tuần này, chúng tôi tin chắc rằng bà đã trở thành mẫu người “hằn học, giận dữ, ưa bạo lực”, mà chính bà phê bình hồi năm 2015. So sánh Đoan Trang hôm nay với người viết “Giọt nước mắt của lề phải” năm 2011, chúng ta không khỏi ngậm ngùi khi thấy thời gian thật nghiệt ngã.

Thứ tư, chúng tôi tin rằng khi tiếp cận chủ đề Chiến tranh Biên giới Việt – Trung, độc giả nên tìm kiếm sự thật khách quan thay vì tìm một cái cớ để hận thù. Khi những người từng tham gia cuộc chiến đã không tận dụng cuộc chiến để kêu gọi hận thù giữa hai nước Việt-Trung, thì những gương mặt “lề trái” còn lại cũng không có lý do để làm thế.

Quy định rằng sinh viên sư phạm phải cao từ 1m50 trở lên
có xuất phát từ động cơ vi phạm nhân quyền không?

Khoảng ngày 12/02/2019, nhiều tờ báo chính thống đã có bài phản đối điều kiện tuyển sinh của Đại học Sư phạm TP.HCM – rằng sinh viên nam phải cao từ 1m55 trở lên, nữ phải từ 1m50 trở lên. Họ bình luận rằng vì  những vấn đề thể chất như chiều cao không liên quan đến năng khiếu và nhiệt huyết trong nghề dạy học, không nên đưa chúng vào vào điều kiện dự tuyển. Nhân đó, nhiều bộ phận của dư luận phi chính thống đã tận dụng vụ việc để công kích nền giáo dục và tình trạng nhân quyền của Việt Nam, chủ yếu theo 3 hướng: công kích ngành giáo dục Việt Nam, quy kết Việt Nam vi phạm nhân quyền và liên kết sự việc này với yếu tố Trung Quốc.

Về mặt hành động, Nghiêm Kim Hoa lên group Facebook “Cộng đồng Sinh viên Nói Vì Sinh viên”, để kích rằng sinh viên phải có phát ngôn về vấn đề này. Đáp lại, nhóm này viết một thư ngỏ gửi Đại học Sư phạm TP.HCM, trong đó họ cũng tiếp cận vấn đề từ góc độ quyền học tập, quyền của người khuyết tật…

Từ ngày 13/02, trường Đại học Sư phạm TP.HCM bắt đầu đưa ra các thông tin để phản bác. Họ cho biết tiêu chuẩn về chiều cao không phải là một tiêu chuẩn mới của trường hoặc của ngành sư phạm, mà là một trong những điều kiện về sức khỏe của người dự tuyển đã có từ năm 2008. Nó cũng đã được đăng tải trong “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng”, do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành. Một cán bộ của trường giải thích rằng “nhân lực trong ngành giáo dục phải đủ sức khỏe, đủ khả năng thích nghi và có sức bền nghề cao, nên tiêu chí sức khỏe là quan trọng”.

Như vậy, tiêu chuẩn về chiều cao của sinh viên sư phạm thực ra không mới, mà đã được công khai áp dụng từ 10 năm nay. Nó nảy sinh từ tiêu chuẩn sức khỏe của người làm nghề dạy học, chứ không xuất phát từ ý định “mang tính phân biệt đối xử, tạo ra sự bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội” như Đặng Hoàng Giang quy chụp. Sau khi cán bộ Đại học Sư phạm TP.HCM cung cấp thông tin đầy đủ cho dư luận, lượng bài công kích khai thác chủ đề này đã giảm đi.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 2 ý kiến.

Thứ nhất, qua ví dụ về thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký mà dư luận mạng đã viện dẫn, có thể thấy quy định rằng sinh viên sư phạm phải cao trên 1m50 thật sự có vấn đề. Nó khiến nhiều người trẻ thật sự có đam mê với nghề giáo mất cơ hội tham gia nghề này, và khiến học sinh vuột mất nhiều thầy cô giỏi. Dù vậy, qua câu trả lời của người trong cuộc, có thể thấy quy định này xuất phát từ sự lo lắng rằng sức khỏe của những người hành nghề giáo sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, chứ không xuất phát từ dụng ý “kỳ thị”, “phân biệt đối xử” như lời quy chụp của Đặng Hoàng Giang. Là người dẫn dắt phong trào “Tôi Tử Tế” và “thấu cảm”, lẽ ra ông Giang nên xem xét các bằng chứng và lắng nghe ý kiến của người trong cuộc một cách thận trọng, trước khi suy đoán rằng họ có động cơ xấu.

Thứ hai, trong vụ việc này, báo chí đã bóp méo một quy định tuyển sinh vốn có từ lâu trong các trường sư phạm, để ngụy tạo một “tin nóng” nhằm công kích ngành giáo dục Việt Nam. Nó nhắc chúng ta nhớ đến vụ “nữ sinh sư phạm được phép bán dâm 4 lần”, trong đó báo chí bóp méo một quy định chung của các trường đại học, rồi dùng nó để công kích riêng các trường sư phạm. Dù nền giáo dục Việt Nam có nhiều vấn đề, báo chí có nên mô tả sai bản chất của sự việc, và quy trách nhiệm cho sai người, chỉ để hướng sự công kích vào ngành giáo dục hay không? Chúng tôi cho là không, vì không thể quét sạch nhà bằng một cái chổi bẩn.

Bắt Trương Duy Nhất là vi phạm quyền tự do ngôn luận?

Ngày 01/02/2019, trang The Vietnamese đưa tin rằng Trương Duy Nhất đã trốn sang Thái Lan vào đầu tháng 1, đến văn phòng Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc hôm 25/01 để xin tị nạn chính trị, rồi “mất tích” từ đó đến nay. Dư luận phi chính thống chủ yếu khai thác chủ đề này theo hướng “thuyết âm mưu” về đấu đá cung đình và tuyên truyền rằng công an Việt Nam đã “bắt cóc” Trương Duy Nhất một cách bất hợp pháp ở Thái Lan, như từng “bắt cóc” Trịnh Xuân Thanh ở Đức. Trong tuần qua, dư luận phi chính thống về Trương Duy Nhất tiếp diễn một cách thực tế hơn, khi họ tăng lượng tin tức, hành động và giảm lượng tin đồn. Hiện nay, họ chủ yếu khai thác vụ việc này theo 3 hướng:

Thứ nhất, họ làm rõ các tình tiết trong vụ việc, để xác nhận rằng Trương Duy Nhất đã bị bắt ở Thái Lan. Chẳng hạn, BBC tiếng Việt phỏng vấn Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) ở Thái Lan, chủ khách sạn mà Nhất đã trọ ở Thái Lan, và “ông A”, một gương mặt chống đối ở Thái Lan từng giúp Nhất trú ẩn trước khi bị “mất tích”.

Thứ hai, họ hô hào chuẩn bị các hoạt động pháp lý và truyền thông để bảo vệ, hỗ trợ Trương Duy Nhất.

Thứ ba, họ cảnh báo giới chống đối không đến trú ẩn ở Thái Lan. Ngày 06/02, Tổ chức Bảo vệ Ký giả (CPJ) ra thông cáo rằng sau 5 năm cầm quyền của quân đội Thái Lan, nước này không còn là nơi an toàn để phóng viên và giới đối lập các nước láng giềng đến tị nạn.

Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 3 ý kiến.

Thứ nhất, trong vụ việc này, có nhiều bằng chứng cho thấy Trương Duy Nhất đã vượt biên và nhập cư trái phép. Vì vậy, Nhất rất khó nhận được sự bảo vệ của luật pháp Việt Nam và Thái Lan.

Thứ hai, Trương Duy Nhất không nên nấp sau lá chắn “quyền tự do ngôn luận”. Quyền này cho phép người ta đăng những thông tin và ý kiến cá nhân mà họ tin tưởng, trong quá trình tìm kiếm sự thật và điều đúng. Trong khi đó, nếu từng đọc các bài viết của Trương Duy Nhất, bạn sẽ thấy Nhất chuyên tung những tin đồn không thể kiểm chứng được để công kích các lãnh đạo, cán bộ đương chức của Việt Nam. Nhiều bài của Nhất chứa thông tin thiên lệch, sai sự thật vì mục đích vụ lợi – như những bài công kích cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, mà gần đây Bùi Thanh Hiếu có đề cập đến. Hành vi của Nhất vừa không nằm trong phạm vi của “quyền tự do ngôn luận”, vừa có dấu hiệu vi phạm luật pháp Việt Nam, vừa là sự lừa dối độc giả.

Thứ ba, qua thái độ của chính phủ Thái Lan với các nhóm chống đối người Việt, có thể thấy giới “dân chửi” không hề đại diện cho “các giá trị phổ cập” được cả thế giới chống lưng, như cách họ hô hào. Hy vọng vụ Trương Duy Nhất có tác dụng “giải ảo”, giúp họ rơi khỏi cõi nhân quyền lơ lửng trên mây trở về với cuộc sống.

Giới “dân chửi” nói gì khi Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ – Triều lần 2 diễn ra ở Việt Nam?

Ngày 06/02/2019, Tổng thống Mỹ Donald Trump xác nhận rằng Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ – Triều lần 2, để bàn về việc chấm dứt tình trạng chiến tranh giữa 2 nước, sẽ diễn ra tại Việt Nam vào ngày 27/02/2019. Ngay sau đó, báo chí chính thống đã mô tả sự kiện này như một cột mốc đáng tự hào, khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại của Việt Nam, và khẳng định vị thế, uy tín và môi trường an ninh của Việt Nam trên trường quốc tế. Người dân Thủ đô đâu đâu cũng bày tỏ sự phấn khởi và thể hiện tinh thần chào đón các vị khách VIP này tới Việt Nam và hy vọng Hà Nội sẽ trở thành biểu tượng hòa bình khi kết nối hai nguyên thủ đang quyết định số phận của bán đảo Triều Tiên.Trong khi đó, các bình luận của dư luận phi chính thống về sự kiện này lại phân ly theo hai hướng đối lập nhau: Hướng thứ nhất, một số gương mặt hy vọng rằng sự kiện này sẽ khiến Việt Nam thân Mỹ hơn và ít thân Trung Quốc hơn; Hướng thứ hai, một số gương mặt chống đối khác phủ nhận thành quả của ngành ngoại giao Việt Nam trong sự kiện này. Sau khi xem xét vấn đề, chúng tôi xin đưa ra 2 ý kiến.

Thứ nhất, chúng tôi đồng ý với nhận xét của ông Carl Thayer, rằng sự kiện sắp tới sẽ “tái khẳng định tính đúng đắn của chính sách đối ngoại của Việt Nam, là đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại, làm người bạn đáng tin cậy đối với tất cả các nước”. Chúng tôi tin rằng Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách đúng đắn này trong thời gian tới, để hưởng lợi từ nền hòa bình, ổn định và các mối quan hệ đa phương, thay vì để các nỗi lo nhất thời làm lỡ những thành tựu đã xây dựng được.

Thứ hai, cũng trong tuần qua, Phó Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Robert Palladino đã ca ngợi Việt Nam là “người bạn thân thiết của Hoa Kỳ”, đồng thời cám ơn Việt Nam vì “sự hào phóng” khi đăng cai hội nghị. Vì phát ngôn này trái với quan điểm mà ông Trịnh Hội đã nêu trên BBC, ông Hội nên dành thời gian phản biện nó một cách thích đáng.

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author