Ai là kẻ phá hoại tiến trình hòa giải, thống nhất Triều Tiên

Ai là kẻ phá hoại tiến trình hòa giải, thống nhất Triều Tiên

Với sự chi phối truyền thông của Mỹ và phương Tây, chỉ sau vài năm, đến ngày hôm nay hầu hết người phương Tây cũng như chúng ta đều gần như không biết hoặc đã quên “Chính sách Ánh Dương” giữa 2 miền Triều Tiên (giai đoạn 1998-2008), nhằm mục đích thống nhất Triều Tiên. Tổng thống Mỹ Bush cùng ngoại giao đoàn của ông ta đã cố tình phá hoại chính sách này để cô lập Bắc Triều Tiên và buộc nước này phải vũ trang để tự vệ, tránh rơi vào tình trạng thê thảm như Iraq hay Syria hiện nay.
Với Chính sách Ánh Dương (xem ở đây: http://www.dav.edu.vn/…/471-so-34-cuoc-hoa-giai-tren-ban-da…), từ năm 1998 Triều Tiên đã tham gia vào quá trình giải trừ vũ khí hạt nhân và tiến hành đàm phán để thống nhất đất nước. Nhưng họ đã không ngờ tới âm mưu của chính quyền Bush/Cheney phá hoại Chính sách Ánh Dương, mà cuối cùng đã buộc Triều Tiên phải nối lại chương trình hạt nhân của mình với cuộc thử đầu tiên vào năm 2006.
Năm 1994, Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã đàm phán với Chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Jung Il, Bắc Triều Tiên đã đồng ý ngừng chương trình vũ khí hạt nhân của mình và cho phép cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế ( IAEA) cùng Trung Quốc tổ chức việc thanh sát. Đổi lại, Hoa Kỳ đã đồng ý bù đắp nguồn điện bị thiếu hụt khi Bắc Triều Tiên phải đóng cửa lò phản ứng Yongbyon, bằng các chuyến hàng dầu lửa và 02 tổ hợp nhà máy điện hạt nhân nhỏ.
Triều Tiên đã tuân thủ thỏa thuận này, và năm 1998, Tổng thống Nam Triều Tiên Kim Dae Jung đã đề xuất Chính sách Ánh Dương nhằm giảm căng thẳng, thực hiện hòa giải giữa Bắc Triều Tiên với Hàn Quốc. Tháng 6/2000, lãnh đạo hai nước đã tổ chức một hội nghị thượng đỉnh trong 03 ngày lịch sử tại Bình Nhưỡng (lần đầu tiên sau 50 năm), ký một Hiệp định trong đó 2 bên đồng ý một tiến trình thống nhất đất nước. Trong các điều khoản khác, Hiệp định bao gồm việc viện trợ nhân đạo của Hàn Quốc nhằm giải quyết tình trạng thiếu lương thực của Bắc Triều Tiên, nới lỏng các hạn chế đối với đầu tư của Hàn Quốc vào Bắc Triều Tiên, mở cửa khu du lịch Kumgang của Bắc Triều Tiên với các du khách Hàn Quốc, vv..
Năm 2000, Kim Dae Jung đã được trao giải thưởng Nobel hòa bình vì đã thực hiện thành công Chính sách Ánh Dương.
Tuy nhiên, George W Bush, người nhậm chức tổng thống Mỹ vào năm 2001, đã có kế hoạch khác cho bán đảo Triều Tiên. Theo quan điểm hoang tưởng của ông ta, quân đội Bắc Triều Tiên là mối đe dọa với các đồng minh Hàn Quốc và Nhật Bản của Hoa Kỳ, ông ta đã vẽ ra nỗi ám ảnh chỉ để nhằm có thể triển khai một hệ thống phòng thủ tên lửa tốn kém. Điều này cũng giải quyết mối lo lắng của Hoa Kỳ trước động thái Nhật Bản nỗ lực bình thường hoá quan hệ với Bắc Triều Tiên, điều này thực sự gây ra mối đe dọa tiềm ẩn đối với sự thống trị chiến lược của Mỹ trong khu vực.
Trong cuốn sách “Trách nhiệm của Bush về chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên” (đọc ở đây: http://mahablog.com/oldsite/id34.html) – nhà báo Barbara O’Brien đã mạnh mẽ vạch trần những nỗ lực tính toán của Bush nhằm phá hoại Chính sách Ánh Dương, bắt đầu từ việc ông ta từ chối gặp người đoạt giải Nobel hòa bình Kim Dae Jung trong chuyến thăm Washington, tháng 1/2002. Ngay sau đó, Bush đã đưa ra bài diễn văn “Axis of Evil” tai tiếng của ông ta, trong đó đơn phương cáo buộc Bắc Triều Tiên với Iraq và Iran là các quốc gia thuộc “trục ma quỷ” bảo trợ cho chủ nghĩa khủng bố và tìm kiếm vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tuyên bố được đưa ra vào tháng 10/2002, chỉ 1 tháng sau khi Nhật Bản tiến hành nỗ lực ngoại giao để bình thường hóa quan hệ với Bắc Triều Tiên.
Tổng thống Bush cũng đơn phương rút nhân viên Hoa Kỳ ra khỏi Bắc Triều Tiên, nơi họ hợp tác với quân đội Triều Tiên để tìm kiếm hài cốt của lính Mỹ thiệt mạng trong Chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953 (tương tự như Chương trình POW/MIA trong tiến trình hòa giải Việt – Mỹ).
Nhà báo O’Brien đã khẳng định trong loạt bài của mình, nguyên nhân đích thực của những động thái này chính là chuyến thăm của thủ tướng Nhật Junichiro Koizumi tới Bắc Triều Tiên trong nỗ lực đầu tiên để bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Theo quan điểm của chính quyền Bush, một khối kinh tế-chính trị độc lập gồm Nhật Bản và một Triều Tiên thống nhất sẽ gây ra một mối đe dọa chiến lược nghiêm trọng, chấm dứt sự thống trị của Hoa Kỳ ở Châu Á. Điều này là có căn cứ bởi thực tế vào năm 1994, sự chiếm đóng quân sự trực tiếp của Mỹ ở Hàn Quốc đã suýt phải chấm dứt, sau khi người Hàn Quốc lật đổ nhà độc tài Roh Tae-woo, một con rối do Mỹ tạo ra.
Trước tình hình bạo lực ngày càng gia tăng ở khu phi quân sự DMZ, cùng các mối đe dọa quân sự trực tiếp từ Mỹ, năm 2003 Triều Tiên buộc phải tuyên bố rút khỏi Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân và khởi động lại lò phản ứng hạt nhân đã bị đóng cửa theo Thỏa thuận 1994. Triều Tiên cũng tuyên bố khởi động lại chương trình vũ khí hạt nhân và thử nghiệm tên lửa tầm xa. Năm 2004, Triều Tiên tuyên bố chế tạo thành công vũ khí hạt nhân và năm 2006 tiến hành cuộc thử nghiệm đầu tiên của mình.
Nhưng ngay cả trước đó, năm 2002, trong khi không hề có bằng chứng cho thấy Triều Tiên có chương trình vũ khí hạt nhân, Bush vừa lên cầm quyền đã lập tức đưa ra những cáo buộc chống lại Triều Tiên với sự vu cáo này. Cùng các hành động quân sự gia tăng sức ép lên Triều Tiên đã buộc họ thấy phải cần có vũ khí hạt nhân để tự bảo vệ mình. Năm 2004, Bush đã thuyết phục được chính quyền Mỹ tin rằng họ đang bị đe dọa bởi Triều Tiên, từ đó ông ta đã thành công trong việc thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ đồng ý một chương trình có chi phí khổng lồ để triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa lãng phí và rất đáng nghi ngờ.
Trong khi đó, bất chấp những căng thẳng gia tăng, Chính sách Ánh Dương vẫn tiếp tục được thực hiện cho đến tận năm 2008. Nó chỉ thực sự bị dừng lại sau sự cố lính Triều Tiên nổ súng vào một du khách Hàn Quốc tại khu du lịch núi Kumgang, sau những hành vi khiêu khích dường như có chủ ý của người này.

Hùng Ngô Mạnh

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author