50 SỰ KIỆN TRONG CUỘC ĐỜI FIDEL CASTRO

50 SỰ KIỆN TRONG CUỘC ĐỜI FIDEL CASTRO

Fidel, vị Tổng tư lệnh của Cách mạng Cuba đã mãi mãi in dấu trong lịch sử của Cuba và Mỹ Latinh cũng như toàn thế giới, ông đã xây dựng đất nước Cuba trở thành biểu tượng của phẩm giá, ý chí bất khuất đấu tranh cho hòa bình và công lý.

1. Fidel Castro sinh ra trong một gia đình có bảy người con, ngày 13/8/1926, tại Biran (nay thuộc tỉnh Holguín), có bố là ông Castro Argiz, một địa chủ giàu có của Tây Ban Nha đến từ Galicia và mẹ là bà Lina Ruz González, sinh trưởng tại Cuba.

2. Lên bảy tuổi, Fidel được gửi đến thành phố Santiago de Cuba, sống với giáo viên mà gia đình gửi gắm chịu trách nhiệm cho việc học của anh. Cô giáo sau đó đã bỏ rơi anh, “Cô lừa dối gia đình tôi”, và “Tôi đã phải chịu đói”, Fidel Castro kể lại. Một năm sau đó, vào tháng Giêng/1935, anh vào học ở trường tôn giáo Hermanos de La Salle, như một thực tập sinh. Tháng Giêng/1938, sau khi nổi loạn chống lại sự độc đoán của một giáo viên, anh rời trường ở tuổi 11. Từ 1942 đến 1945, anh tiếp tục học tại Havana với các tu sĩ Dòng Tên tại trường Belen College. Sau khi nhận được điểm cao trong các nghiên cứu, giáo viên, cha Armando Llorente, đã viết nhận xét: “Anh ấy đã khẳng định mình trong tất cả các môn học. Anh cũng là một vận động viên thực sự, một cầu thủ tuyệt vời và có lý tưởng. Luôn luôn can đảm và đầy lòng tự hào, anh đã giành được sự ngưỡng mộ và tình cảm của tất cả. Anh dự định sẽ tiếp tục nghiên cứu về pháp luật và chúng tôi không nghi ngờ rằng anh sẽ tỏa sáng rực rỡ trong cuộc sống”.

3. Mặc dù đi lưu vong ở Miami vào năm 1961, sau những căng thẳng giữa chính quyền cách mạng và giáo hội Công giáo Cuba, Cha Llorente luôn giữ lại những kỷ niệm về cựu học sinh của mình: “Mọi người thường đổ lỗi cho Fidel. Nhưng tôi không thể nói xấu về Fidel mà tôi biết. Hơn nữa, anh ấy đã cứu sống tôi. Đây là những điều không bao giờ có thể quên ” – Fidel Castro đã nhảy xuống sông để cứu thầy giáo của mình.

4. Năm 1945, Fidel Castro vào Đại học Havana, nơi anh bắt đầu nghiên cứu pháp luật. Được bầu làm đại biểu của Khoa Luật, anh tích cực tham gia vào các cuộc biểu tình chống tham nhũng trong chính quyền của Tổng thống Ramón Grau San Martín. Anh đã không ngần ngại công khai tố cáo các băng nhóm vũ trang của Baga, một nhóm có liên hệ với các cơ quan chính phủ đương thời.

5. Năm 1947, ở tuổi 22, Fidel Castro đã tham gia cùng Juan Bosch, Tổng thống tương lai của nước Cộng hòa Dominica, trong hoạt động tại Cayo Confite nhằm lật đổ nhà độc tài Rafael Trujillo, người được hỗ trợ từ Hoa Kỳ.

6. Một năm sau, vào năm 1948, anh tham gia cuộc tổng nổi dậy Bogotazo nổ ra sau vụ ám sát Jorge Eliecer Gaitan, một nhà lãnh đạo chính trị tiến bộ và ứng cử viên tổng thống ở Colombia.

7. Sau khi hoàn thành nghiên cứu sau đại học trong năm 1950, Fidel Castro đã làm việc của một luật sư cho đến năm 1952, bảo vệ người nghèo, trước khi bước vào hoạt động chính trị.

8. Fidel Castro khi đó chưa tham gia Đảng Xã hội (PSP), đảng cộng sản giai đoạn trước cách mạng Cuba. Thay vào đó, anh gia nhập Đảng nhân dân Cuba, còn gọi là Đảng Chính thống giáo, được thành lập vào năm 1947 bởi Eduardo Chibás, với chương trình hành động là: “Dựa trên một số yếu tố chính: chủ quyền quốc gia, độc lập kinh tế thông qua việc đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, cấm sở hữu bất động sản lớn, chú trọng phát triển công nghiệp, quốc hữu hóa các ngành an sinh xã hội, đấu tranh chống tham nhũng, đấu tranh cho công bằng xã hội và bảo vệ người lao động”.
Fidel Castro đã bày tỏ tin tưởng về đường lối của José Martí và Chibás về chống chủ nghĩa đế quốc. Là một nhà hùng biện tài năng, anh đã chạy đua trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1952 trên danh nghĩa ứng cử viên của đảng Nhân dân Cuba.

9. Ngày 10/3/1952, ba tháng trước khi cuộc bầu cử tổng thống, tướng Fulgencio Batista phá vỡ trật tự hiến pháp, lật đổ chính phủ của Carlos Prio Socarrás với sự hỗ trợ trực tiếp từ Hoa Kỳ, được Hoa Kỳ công nhận, trở thành chế độ độc tài quân sự mới.

10. Luật sư Fidel Castro đệ đơn chống lại chế độ Batista vi phạm hiến pháp nhưng Tòa án đã làm ngơ.

11. Ngày 26/7/1953, Fidel Castro đã trở thành người đứng đầu một đội quân gồm 131 người đàn ông tấn công vào trại lính Moncada ở Santiago de Cuba, pháo đài quân sự quan trọng thứ hai trong cả nước, và doanh trại trong thành phố Bayamo. Mục đích là để kiểm soát Santiago – cái nôi lịch sử của Cuba, khởi động một cuộc nổi dậy trên khắp đất nước để lật đổ nhà độc tài Batista.

12. Các hoạt động nổi dậy đã thất bại đẫm máu, 55 người bị sát hại sau khi bị tra tấn tàn bạo bởi quân đội Batista, trong khi chỉ có 6 người bị giết chết trong chiến đấu. Một số người đã chạy thoát nhờ sự hỗ trợ của người dân địa phương
.
13. Fidel Castro, bị bắt một vài ngày sau đó, anh nợ cuộc đời mình với Trung sĩ Pedro Sarria, người đã từ chối tuân theo mệnh lệnh của cấp trên anh ta ở Moncada. Pedro đã ra lệnh cho binh lính của mình: “Đừng bắn! Đừng bắn! Không thể giết chết những lý tưởng”.

14. Trong quá trình tự bào chữa, Fidel đã nói “Lịch sử sẽ bào chữa cho tôi”, và mạnh mẽ tố cáo tội ác của Batista và những đau khổ mà người dân Cuba phải chịu đựng. Anh đã trình bày chương trình hành động của mình vì một Cuba tự do, dựa trên chủ quyền quốc gia, độc lập về kinh tế và công bằng xã hội.

15. Bị kết án 15 năm tù giam, Castro đã được ân xá hai năm sau đó, vào năm 1955. Sau đó, anh sáng lập Phong trào 26 tháng bảy (M 26-7) và công bố kế hoạch tiếp tục cuộc chiến chống lại chế độ độc tài quân sự trước khi đi sống lưu vong tại Mexico.

16. Với một bác sĩ trẻ Ernesto Guevara, Fidel Castro đã tổ chức các cuộc đổ bộ Granma. Castro đã không gặp khó khăn để thuyết phục Che Guevara, người sau này nhớ lại: “Tôi đã gặp anh ta trong một đêm mát trời ở Mexico City, và tôi nhớ rằng cuộc thảo luận đầu tiên của chúng tôi xoay quanh chính trị quốc tế. Một vài giờ sau đó – vào buổi sáng- trong đầu tôi đã quyết định trở thành một thành viên của đoàn quân trong tương lai”.

17. Tháng Tám năm 1955, Fidel Castro xuất bản tuyên ngôn đầu tiên của phong trào tháng 7 = 26, một tài liệu bao gồm những điểm chính anh đã nêu trong tác phẩm “Lịch sử sẽ bào chữa cho tôi”, bao gồm các nội dung về cải cách ruộng đất, cấm sở hữu bất động sản lớn, cải cách xã hội và kinh tế có lợi cho những người kém may mắn, công nghiệp hóa đất nước, xây dựng nhà ở, quốc hữu hóa các dịch vụ công ích, miễn phí giáo dục, y tế và văn hóa cho tất cả, cải cách thuế và tổ chức lại dịch vụ chính phủ chống tham nhũng.

18. Tháng Mười/1955, nhằm gây quỹ cho cách mạng, Fidel Castro đã đi vận động khắp Hoa Kỳ, nơi ông đã gặp những người Cuba lưu vong. FBI đã đặt các câu lạc bộ yêu nước ở các thành phố được thành lập bởi M 26-7 dưới sự giám sát chặt chẽ.

19. Ngày 25/11/1956, Fidel Castro rời cảng Tuxpan, Mexico, trên tàu Granma , một chiếc thuyền được thiết kế cho 25 người nhưng chở tới 82 người cách mạng tiến về Cuba với mục đích xây dựng cuộc chiến tranh du kích ở vùng núi Sierra Maestra.

20. Do điều kiện thời tiết, việc vượt biển trở thành một cơn ác mộng. Một thành viên của đoàn thám hiểm đã rơi xuống biển. Juan Almeida, một thành viên của nhóm và là chỉ huy tương lai của cách mạng, nhớ lại: “Fidel nói với chúng tôi như sau:”Chúng ta phải cứu anh ấy, chúng ta sẽ không bỏ đi từ đây”’. Mọi người đều rất cảm động bởi những lời nói của anh và nó kích thích tinh thần chiến đấu của chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy rằng với người đàn ông này, không ai bị bỏ rơi. Dù việc này đã gây nguy hiểm cho chuyến đổ bộ. Tuy nhiên cuối cùng, anh ấy đã được cứu” – (sau nhiều giờ chạy vòng tìm kiếm, Fidel đã tìm thấy người đồng chí của mình. Sự nhân đạo của Fidel còn được biết đến với hàng chục nghìn bác sỹ tình nguyện giúp đỡ châu Phi, năm 2007 ông còn cho các bác sĩ Cuba, phục hồi thị giác cho Mario Teran, trung sĩ Bolivia đã bắn chết người đồng chí Che Guevara của ông năm 1967).

21. Sau một hành trình kéo dài bảy ngày, thay vì năm ngày như dự định, đội quân đổ bộ đã lên được bờ vào ngày 02/12/1956, theo Raúl Castro, “đầm lầy tồi tệ nhất từng thấy”. Các chiến sĩ cách mạng bị chia cắt bởi những tràng đạn từ máy bay chính phủ độc tài Cuba khi đó, và bị truy đuổi theo đuổi bởi 2.000 lính Batista đã chờ đợi họ ở đây.

22. Một vài ngày sau đó, tại Cinco Palmas, Fidel Castro nhóm lại đượcvới em trai Raúl và mười thành viên khác của đội quân. “Bây giờ chúng ta sẽ giành chiến thắng trong chiến tranh”, lãnh đạo M 26-7 nói với những người lính của mình. Cuộc chiến tranh du kích bắt đầu, nó sẽ kéo dài trong 25 tháng.

23. Tháng 2/1957, các cuộc phỏng vấn của Herbert Matthews với Fidel Castro xuất hiện trên New York Times, Mỹ và dư luận thế giới phát hiện sự tồn tại của một lực lượng du kích ở Cuba. Batista sau đó thừa nhận trong hồi ký của mình rằng thông qua cuộc đảo chính trên truyền thông này “Castro đã trở thành một nhân vật huyền thoại”. Nhà báo Matthews thì tả lại: “Không hề khoa trương, giật gân vì thực tế đúng là như vậy, đó là bởi sự khác biệt, Fidel Castro chính xác là một người đàn ông chân chính như tôi đã mô tả”.

24. Mặc dù tuyên bố trung lập trong cuộc xung đột Cuba, Mỹ ngấm ngầm hỗ trợ về chính trị, kinh tế và quân sự cho Batista, và chống Fidel Castro lên đến giây phút cuối cùng. Vào ngày 23/12/1958, một tuần trước khi cuộc cách mạng chiến thắng, trong khi quân đội Fulgencio Batista đứng trước nguy cơ tan rã mặc dù chiếm ưu thế về số lượng và vũ khí. Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đã lập tức được triệu tập với sự tham gia của Tổng thống Eisenhower, Allen Dulles, giám đốc CIA đã nêu rõ lập trường của Mỹ: “Chúng ta phải ngăn chặn chiến thắng của Castro”.

25. Mặc dù có sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, với 20.000 binh lính và ưu thế vật chất, Batista không thể đánh bại một lực lượng du kích gồm 300 người trong thời gian tấn công cuối cùng vào mùa hè năm 1958 và từ đó đã huy động được hơn 10.000 chiến sỹ tham gia vào đội quân. Điều này đã chứng minh thiên tài quân sự của Fidel Castro, người đã dự đoán và đánh bại âm mưu “Sự kết thúc cho Fidel” của Batista.

26. Ngày 01/01/1959, năm năm, năm tháng và năm ngày sau ngày 26/7/1953 tấn công vào trại lính Moncada, Cách mạng Cuba đã giành chiến thắng.

27. Trong chính quyền cách mạng được thành lập tháng Giêng/1959, Fidel Castro được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Các lực lượng vũ trang. Ông đã không làm tổng thống, mà chức vụ đó thuộc về thẩm phán Manuel Urrutia, cũng không làm Thủ tướng Chính phủ, mà được giao cho luật sư José Miró Cardona.

28. Tháng 2/1959, Thủ tướng Chính phủ Cardona, do không đồng ý với cải cách kinh tế và xã hội mà ông coi là cực đoan, đã từ chức. Manuel Urrutia sau đó bổ nhiệm Fidel Castro vào vị trí Thủ tướng.

29. Tháng Bảy/1959, Tổng thống Urrutia từ chối tiếp tục cải cách, Fidel Castro đã từ chức Thủ tướng Chính phủ. Các cuộc biểu tình rất lớn nổ ra trên khắp Cuba, kêu gọi sự ra đi của Urrutia và sự trở lại của Fidel Castro. Osvaldo Dorticós,Tổng thống mới của nước Cộng hoà đã tái bổ nhiệ Fidel Castro làm Thủ tướng Chính phủ.

30. Mỹ ngay lập tức thể hiện sự thù địch với Fidel Castro bằng việc chào đón các chức sắc của chế độ cũ, trong đó có nhiều tội phạm chiến tranh đã chạy trốn sau khi cướp ngân khố quốc gia với số tiền 424 triệu USD.

31. Ngay từ đầu, Fidel Castro đã chứng minh thiện chí của mình để duy trì quan hệ tốt với Washington. Tuy nhiên, trong chuyến thăm đầu tiên của ông đến Hoa Kỳ vào tháng Tư/1959, Tổng thống Eisenhower từ chối tiếp ông mà bỏ đi chơi golf. Sau này, John F. Kennedy bày tỏ sự hối tiếc về sự việc đó: “Fidel Castro là một phần di sản của Bolivar. Lẽ ra chúng ta nên chào đón ấm áp hơn đối với chàng phiến quân trẻ tuổi đang bốc lửa tại thời điểm chiến thắng của mình”.

32. Tháng Mười/1959, các phi công từ Mỹ đã ném bom Cuba và trở về Florida, nơi họ được hậu thuẩn của chính quyền. Vào ngày 21/10/1959, một quả bom rơi trên Havana làm hai người chết và 45 người bị thương. Người chịu trách nhiệm cho tội ác, Pedro Luis Díaz Lanz, trở về Miami. Washington từ chối dẫn độ hắn tới Cuba.

33. Tháng 2/1960, Fidel Castro bắt đầu gần gũi hơn với Moscow, mua vũ khí của Liên Xô sau khi Hoa Kỳ từ chối bán vũ khí cần thiết cho quốc phòng của đảo. Washington cũng gây áp lực lên Canada và các quốc gia châu Âu không được quan hệ với Cuba, buộc Cuba chuyển sang khối XHCN, từ đó lấy cớ biện minh cho chính sách thù địch của Mỹ đối với Havana.

34. Tháng 3/1960, chính quyền Eisenhower đã ra quyết định chính thức theo đuổi chính sách lật đổ Fidel Castro.Tổng cộng, nhà lãnh đạo của cuộc Cách mạng Cuba đã thoát khỏi không ít hơn 637 âm mưu ám sát mình (theo số liệu khác là 638).

35. Tháng 3/1960, chiếc tàu Pháp La Coubre, mang theo vũ khí, bị đánh bom bởi CIA tại cảng Havana. Hơn một trăm người thiệt mạng. Trong bài phát biểu tưởng nhớ các nạn nhân, Fidel Castro đưa ra khẩu hiệu ” Patria o Muerte ” (Homeland hay Death) lấy cảm hứng từ Cách mạng Pháp năm 1793, “Tự do, Bình đẳng, Đoàn kết hay là chết”.

36. Ngày 16/4/1961, sau các vụ đánh bom của CIA vào sân bay chính của đất nước, khúc dạo đầu cho cuộc xâm lược Vịnh Con Heo, Fidel Castro tuyên bố đưa đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

37. Ngày 17/4/1961, xảy ra sự kiện Vịnh Con Heo, được thực hiện bởi 1.400 tên lính Cuba lưu vong được hỗ trợ bởi CIA, Fidel Castro đã lường trước trước cuộc xâm lược này. Ông giáng cho Mỹ một thất bại nặng nề và nghiền nát quân xâm lược trong vỏn vẹn 66 giờ đồng hồ, một sự kiện làm chấn động toàn thế giới.

38. Trong cuộc khủng hoảng tên lửa tháng 10/1962, tướng Liên Xô Alexei Dementiev đã luôn ở bên Fidel Castro. Ông kể lại trong ký ức của mình: “Tôi đã trải qua những khoảnh khắc ấn tượng nhất của cuộc đời tôi với Fidel. Tôi bên anh hầu hết thời gian. Có một khoảnh khắc khi chúng tôi cho rằng xảy ra một cuộc tấn công quân sự của Hoa Kỳ, Fidel đã quyết định báo động. Trong vòng vài giờ, mọi người dân đã vào vị trí chiến đấu. niềm tin của Fidel đã lan tỏa tới mọi người của ông, cũng như tạo niềm tin cho Liên Xô… Fidel, không thể tranh cãi, là một trong những thiên tài chính trị và quân sự của thế kỷ”.

39. Tháng 10/1965, Đảng Cộng sản Cuba (PCC) thay thế Đảng liên minh cách mạng xã hội chủ nghĩa (PURE) được thành lập năm 1962. Fidel Castro được bổ nhiệm làm Bí thư thứ nhất.

40. Năm 1975, sau khi thông qua Hiến pháp mới, Fidel Castro được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa. Ông liên tục được bầu lại cho đến năm 2006.

41. Năm 1988, từ cách xa hơn 20.000 km, Fidel Castro, tại Havana, đã ủng hộ cuộc chiến của Cuito Cuanavale tại Angola. Trong cuộc chiến này, quân đội tình nguyện Cuba và Angola đã giáng đòn thất bại nặng nề vào các lực lượng vũ trang Nam Phi xâm lược và chiếm đóng Angola, Namibia. Nhà sử học Piero Gleijeses, một giáo sư tại Đại học Johns Hopkins ở Washington, đã viết: “Bất chấp nỗ lực của Washington liên minh với chế độ phân biệt chủng tộc, Cuba đã thay đổi tiến trình lịch sử ở Nam Phi. Sự thiện chiến của người Cuba trên chiến trường và điêu luyện của họ trên bàn đàm phán đã buộc Nam Phi phải chấp nhận độc lập của Namibia. Đồng thời, việc giúp bảo vệ chiến thắng của Cuito Cuanavale đã buộc quân đội Nam Phi phải rút khỏi Angola. Chiến thắng này đã có ảnh hưởng vượt xa biên giới của Namibia”.

42. Là người sáng suốt quan sát perestroika (cải tổ ở Liên Xô), Fidel Castro, trong một bài phát biểu ngày 26/7/1989 đã đưa ra lời tiên tri, tuyên bố nếu Liên Xô biến mất, Cuba vẫn sẽ đấu tranh và tiếp tục đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội: “Nếu ngày mai chúng ta thức dậy và thấy rằng một cuộc nội chiến lớn đã nổ ra ở Liên Xô, hoặc ngay cả khi chúng ta thức dậy với những tin tức rằng Liên Xô đã tan rã thì Cuba và cuộc cách mạng Cuba sẽ tiếp tục chiến đấu và chống lại”.

43. Năm 1994, đỉnh cao của thời kỳ đặc biệt, ông đã gặp Hugo Chavez lần đầu tiên. Họ hình thành một tình bạn mạnh mẽ và kéo dài cho đến khi khi Chavez qua đời năm 2013. Theo Fidel Castro, Tổng thống Venezuela là “người bạn tốt nhất của nhân dân Cuba từng có”. Họ thiết lập một quan hệ đối tác chiến lược và tạo ra Liên minh Boliva cho nhân dân châu Mỹ năm 2005, mà hiện nay bao gồm tám quốc gia ở Mỹ Latinh và vùng Caribê.

44. Năm 1998, Fidel Castro tiếp nhận chuyến thăm Havana của Đức Giáo Hoàng John Paul II. Giáo hoàng sau đó yêu cầu rằng: “thế giới mở ra cho Cuba và Cuba mở ra với thế giới”.

45. Năm 2002, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã có chuyến thăm lịch sử tới Cuba. Ông đã nói chuyện trực tiếp trên truyền hình trực tiếp: “Tôi không đến đây để can thiệp vào công việc nội bộ của Cuba, mà là để mở rộng bàn tay hữu nghị với nhân dân Cuba và cung cấp một tầm nhìn về tương lai cho cả hai quốc gia và các nước châu Mỹ. Tôi muốn chúng ta là bạn bè và tôn trọng lẫn nhau”.

46. Tháng 7/2006, sau một căn bệnh đường ruột nghiêm trọng, Fidel Castro rút lui khỏi quyền lực. Theo quy định của Hiến pháp, Phó Chủ tịch Raúl Castro kế nhiệm ông.

47. Tháng 2/2008, Fidel Castro vĩnh viễn từ bỏ tất cả mọi chức vụ. Ông đã dành thời gian của mình để viết hồi ký và thường xuyên xuất bản các bài báo dưới bút danh “Reflections”.

48. Năm 2001, sau một chuyến đi tới Cuba, Arthur Schlesinger Jr., một sử gia và cố vấn đặc biệt của Tổng thống Kennedy, đã trả lời các câu hỏi về tôn sùng cá nhân ở Cuba: “Fidel Castro không khuyến khích việc tôn sùng cá nhân. Ở Havana rất khó để tìm thấy một poster hoặc thậm chí là một tấm bưu thiếp với một bức ảnh của Castro. Các biểu tượng của cuộc cách mạng của Fidel, có thể nhìn thấy ở khắp mọi nơi, là Che Guevara “.

49. Gabriel García Márquez, nhà văn người Colombia đạt giải Nobel Văn học, là bạn thân của Fidel Castro. Ông đã viết ngắn gọn và nhấn mạnh: “Fidel tạo nên sự tin tưởng tuyệt đối, thông qua tiếp xúc trực tiếp. Quyền năng của anh là sự quyến rũ. Anh ấy gợi ra các vấn đề mà mọi người quan tâm. Sự kiên nhẫn của anh là bất khả chiến bại, kỷ luật của anh được làm bằng thép, với trí tưởng tượng không có giới hạn và những điều lãng mạn bất ngờ”.

50. Thắng lợi của Cách mạng Cuba vào ngày 01/1/1959, do Fidel Castro lãnh đạo, là sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử thế kỷ 20 của Mỹ Latinh và thế giới. Trong khi Fidel Castro có thể vẫn là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhất của thế kỷ, thậm chí bị chỉ trích dữ dội, nhưng không ai có thể tranh cãi về những điều ông đã đem lại cho Cuba, là một quốc gia độc lập có chủ quyền, được quốc tế tôn trọng, đất nước của ông đã lập nên những thành tựu xã hội không thể phủ nhận trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao và đoàn kết quốc tế.

Ngày 25/11/2016, một trái trái tim vĩ đại đã ngừng đập, nhưng Fidel Castro sẽ mãi mãi là biểu tượng của phẩm giá quốc gia, một người chiến sỹ không mệt mỏi tạo động lực cho những người bị áp bức và tất cả những người đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng con người!

Gửi một nhận xét của bạn về bài viết:

comments

About Author